Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

Hơn 70% nợ xấu đã mua thuộc bất động sản

Tính đến cuối tháng 10, VAMC đã mua hơn 11.000 tỷ đồng nợ xấu của 14 ngân hàng. Trong đó, khoảng 70% khoản nợ đã mua thuộc lĩnh vực bất động sản, hơn 20% thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh



Những căn biệt thự hoang trị giá bạc tỷ không có giá trị sử dụng mà phần lớn dùng để thế chấp ngân hàng
Những căn biệt thự hoang trị giá bạc tỷ không có giá trị sử dụng mà phần lớn dùng để thế chấp ngân hàng. Ảnh minh họa

Sau một tháng triển khai mua nợ xấu, tính đến cuối tháng 10, Công ty Quản lý và Khai thác Tài sản Việt Nam (VAMC) đã mua nợ xấu của 14 ngân hàng với giá trị 11.000 tỷ đồng. Trên thực tế, giá trị gốc tính theo sổ sách của các khoản nợ này là 13.000 tỷ đồng.

Theo phân loại ban đầu của công ty này, khoảng 70% khoản nợ đã mua thuộc lĩnh vực bất động sản, hơn 20% thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Được biết, hiện có hàng chục ngân hàng đang "xếp hàng" bán nợ xấu cho VAMC.

Tuy nhiên, trước mắt , VAMC sẽ tập trung mua các khoản đáp ứng đủ các tiêu chuẩn. Và trong tuần sau, VAMC tiếp tục xem xét mua thêm nợ của 5 tổ chức tín dụng.

Như vậy, với các khoản nợ xấu của 14 ngân hàng vừa bán cho VAMC, 11.000 tỷ đồng đã tạm thời được loại ra khỏi bảng cân đối tài sản của các ngân hàng. Ngược lại, các ngân hàng nhận lại từ VAMC trái phiếu đặc biệt để được tái cấp vốn tối đa 70% giá trị.

Giải trình với Quốc hội về vấn đề nợ xấu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho biết: Trong năm 2012 và 9 tháng đầu năm, đã xử lý được khoảng 100.000 tỷ đồng nợ xấu, chiếm hơn 3% tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng.

Thống đốc Nguyễn Văn Bình khẳng định, trong việc xử lý nợ xấu, ngành ngân hàng xác định trước tiên phải phát huy nội lực của hệ thống các tổ chức tín dụng. Đặc biệt, việc mua bán nợ của VAMC không dùng tiền ngân sách.

Vị tổng tư lệnh ngành cho biết, thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tích cực phối hợp với các Bộ, ngành, ngành sản xuất để có giải pháp tháo gỡ. Trong tháng 11 này sẽ phối hợp Bộ Xây dựng và một số doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng để có được sản phẩm liên kết 4 nhà, đảm bảo việc mua sắm vật liệu xây dựng thông thoáng hơn, góp phần giải quyết tồn kho, ứ đọng vật liệu xây dựng.

Đề cập tới khoản 100.000 tỷ đồng nợ xấu đã được "xử lý", ông Đào Minh Tú, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho hay: Đến thời điểm này vẫn chưa có ngân hàng nào sử dụng trái phiếu đặc biệt để vay vốn tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước. Lý do chung được ông Tú nhìn nhận ở thanh khoản hệ thống tốt và các ngân hàng đang "rủng rỉnh" vốn.

Theo Dân trí

CÁC NGÂN HÀNG

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính  chất và mục tiêu  hoạt động, các loại hình ngân hàng  gồm  ngân  hàng thương  mại,  ngân  hàng  phát  triển,  ngân  hàng  đầu  tư,  ngân  hàng  chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.

Ở Việt Nam, tính đến đầu năm 2013, có 5 ngân hàng thương mại quốc doanh. Trong đó 4 ngân hàng đã cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn chiếm  cổ  phần chi phối, bao gồm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB), Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) và Ngân hàng Công thương (Vietinbank). Còn lại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông  thôn (Agribank) vẫn chưa được cổ phần hóa. Tình hình tài sản như sau: 5 ngân hàng trên chiếm  khoảng  42,8% tổng tài sản; 34 ngân hàng cổ phần chiếm 42,1%; 4 ngân hàng liên doanh và 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài chiếm 11,8%; còn lại khoảng 3,3% tổng tài sản là các tổ chức tín dụng khác.

Sáng ngày 04/04/2014, CTy CP báo cáo đánh giá Việt Nam kế hợp cùng báo điện tử Vietnamnet chính thức tổ chức Lễ công bố Bảng xếp hạng FAST500 2013. 

Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, có 31 TCTD (25 ngân hàng và 6 công ty tài chính) thuộc top 500 doanh nghiệp phát triển nhanh nhất. Đáng chú ý, Ngân hàng Bản Việt lại dẫn đầu với vị trí xếp hạng là 24, tiếp đó là VietBank vị trí 39, SHB vị trí 43. Các ngân hàng tên tuổi lớn không nằm trong top 50, điển hình nhưVietinbank xếp thứ 53, Eximbank thứ 123, Techcombank thứ 288, Vietcombank thứ 383, Sacombank thứ 393... 

6 NH lớn nhất bao gồm:  CTG, VCB, MBB, ACB, STB và EIB, xếp theo thứ tự tổng tài sản.
Trong nhiều năm, Ngân hàng Á Châu (ACB), Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng Xuất nhập khẩu (Eximbank), Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) và Ngân hàng Quân đội (MB) đã định hình top 5 ngân hàng thương mại cổ phần (Nhà nước không nắm tỷ lệ sở hữu chi phối) hàng đầu tại Việt Nam.

Năm 2013, thêm một lần nữa MB cũng là thành viên dẫn đầu trong nhóm về lợi nhuận. Đây là chỉ tiêu chính tạo cách biệt rất lớn trong top 5 ngân hàng cổ phần hàng đầu hiện nay.

So sánh trực quan theo giá trị tuyệt đối, dù giảm nhẹ so với năm 2012, nhưng với 3.013,9 tỷ đồng tổng lợi nhuận trước thuế, MB có mức lợi nhuận lớn nhất. Kế đến là Sacombank với 2.960 tỷ đồng và cũng là thành viên duy nhất trong nhóm hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm. Trong khi đó, ACB với mức lỗ khá lớn trong quý 4, lợi nhuận trước thuế chỉ đạt 1.035 tỷ đồng. Techcombank vẫn chưa cho thấy sự trở lại, dự kiến lợi nhuận tiếp tục giảm nhẹ, đạt 878 tỷ đồng. Đứng cuối và cũng là thất vọng nhất trong nhóm là Eximbank, chỉ đạt 827 tỷ đồng.

Nếu như MB vẫn cho thấy sự ổn định trong khả năng sinh lời, Sacombank trở lại ấn tượng nhưng không bất ngờ (bởi thành viên này vốn có nền tảng và thị phần tốt, đặc biệt ở thị trường phía Nam), thì bộ ba ACB, Eximbank và Techcombank đang cho thấy mức độ “nghìn tỷ” tiền lãi ngày càng khó trong hoạt động ngân hàng.

Có những nguyên nhân chủ quan, song kết quả kinh doanh của ba ngân hàng trên cũng đủ để phản ánh khó khăn chung của nền kinh tế năm qua, cũng như nốt trầm của nhiều thành viên trong hệ thống những năm gần đây.

Ngược lại, nếu so sánh riêng về con số giá trị tuyệt đối của lợi nhuận, năm 2013, bộ ba trên đã có thể trở thành “đàn em” của một số thành viên ở nhóm sau, đơn cử như Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB) với 1.002 tỷ đồng.

Danh sách xếp hạng các ngân hàng trong FAST500 
24.  NHTMCP Bản Việt (Viet Capital Commercial Joint Stock Bank - Viet Capital Bank)
39.  NHTMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) 
43.  NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội 
55.  NHTMCP Kiên Long
56. 

25 ngân hàng nằm trong top 500 DN tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam 2013 (1)



Đặc biệt, Ngân hàng Chính sách  Xã hội (VBSP) được thành lập năm 2002 nhằm  thực hiện  nhiệm vụ cấp tín dụng cho các đối tượng chính sách. Tiền thân của ngân hàng này là Ngân hàng Phục vụ người nghèo  được  thành lập năm 1995, đặt trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.  Theo  Báo  cáo  Thường  niên  2011  của  VBSP,  tổng  tài  sản  cuối  2012  của  ngân  hàng  đạt  107.447  tỷ đồng, trong đó dư nợ tín dụng là 103.731 tỷ đồng; vốn và các quỹ gần 19.500 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng.

ACB, Sacombank, Eximbank, Techcombank và MB đã định hình top 5 NHTMCP (Nhà nước không nắm tỷ lệ sở hữu chi phối) hàng đầu tại Việt Nam. Việc xếp hạng trên dựa vào các tiêu chí: quy mô vốn, tổng tài sản, mạng lưới, thị phần và đặc biệt là hiệu quả trong hoạt động. Sau này, bổ sung thêm một số NH như: Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank, Maritime Bank, VPBank, VIB, SeABank và SHB hình thành nên 14 ngân hàng lớn nhất Việt Nam, được gọi là G14.

Trong năm 2013, top 5 NHTMCP đã có sự phân hóa. Năm 2013, thêm một lần nữa MB cũng là thành viên dẫn đầu trong nhóm về lợi nhuận. Đây là chỉ tiêu chính tạo cách biệt rất lớn trong top 5 ngân hàng cổ phần hàng đầu hiện nay.

So sánh trực quan theo giá trị tuyệt đối, dù giảm nhẹ so với năm 2012, nhưng với 3.013,9 tỷ đồng tổng lợi nhuận trước thuế, MB có mức lợi nhuận lớn nhất. Kế đến là Sacombank với 2.960 tỷ đồng và cũng là thành viên duy nhất trong nhóm hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm. Trong khi đó, ACB với mức lỗ khá lớn trong quý 4, lợi nhuận trước thuế chỉ đạt 1.035 tỷ đồng. Techcombank vẫn chưa cho thấy sự trở lại, dự kiến lợi nhuận tiếp tục giảm nhẹ, đạt 878 tỷ đồng. Đứng cuối và cũng là thất vọng nhất trong nhóm là Eximbank, chỉ đạt 827 tỷ đồng.

Nếu như MB vẫn cho thấy sự ổn định trong khả năng sinh lời, Sacombank trở lại ấn tượng nhưng không bất ngờ (bởi thành viên này vốn có nền tảng và thị phần tốt, đặc biệt ở thị trường phía Nam), thì bộ ba ACB, Eximbank và Techcombank đang cho thấy mức độ “nghìn tỷ” tiền lãi ngày càng khó trong hoạt động ngân hàng.

Có những nguyên nhân chủ quan, song kết quả kinh doanh của ba ngân hàng trên cũng đủ để phản ánh khó khăn chung của nền kinh tế năm qua, cũng như nốt trầm của nhiều thành viên trong hệ thống những năm gần đây.

Ngược lại, nếu so sánh riêng về con số giá trị tuyệt đối của lợi nhuận, năm 2013, bộ ba trên đã có thể trở thành “đàn em” của một số thành viên ở nhóm sau, đơn cử như Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB) với 1.002 tỷ đồng.

Đề án 254 về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đã qua gần hai năm thực hiện , Ngân hàng Nhà nước đã xử lý xong 9 ngân hàng yếu kém. Tuy nhiên, điểm nhạy cảm "sở hữu chéo", "gia đình trị" vẫn còn đe dọa đến sự an toàn của hệ thống.

 Tổ chức tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được thành lập theo pháp luật nước ngoài. Các loại hình tổ chức tín dụng (theo sở hữu): Tổ chức tín dụng được thành lập theo pháp luật Việt Nam bao gồm tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng cổ phần, tổ chức tín dụng hợp tác,  tổ  chức  tín  dụng  liên  doanh,  tổ  chức  tín  dụng  100%  vốn  nước  ngoài.  Ngoài  ra  còn  có  chi nhánh, văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài tại Việt nam.

Dưới đây là DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG.

:

Sau một thời gian tương đối ổn định, đầu năm 2014, lãi suất huy động của các NHTM bắt đầu giảm.

Biểu lãi suất của một số ngân hàng khảo sát ngày 25/2 như sau:

Lãi suất huy động của ngân hàng nào cao nhất hiện nay? (1)

Thành Hưng

Đại hội đồng cổ đông Sacombank năm 2013 đã thông qua tờ trình cho phép tìm một NH để sáp nhập, mở rộng hơn nữa quy mô hoạt động của Sacombank. Sau một thời gian làm việc, đến nay HĐQT NH Phương Nam đã có đề nghị sáp nhập vào Sacombank và được HĐQT Sacombank chấp thuận. Hai NH hiện đang xem xét quy trình, thủ tục và xây dựng đề án để trình NH Nhà nước. 

Phương Nam cũng nhận thấy họ tự tái cấu trúc là không khả thi, nên đã đề nghị được sáp nhập vào Sacombank. Phương Nam là NH tầm trung, có mạng lưới tương đối tốt và lượng khách hàng khá, nếu sáp nhập với Sacombank sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển của Sacombank. Sau khi sáp nhập với Phương Nam, Sacombank sẽ có mạng lưới, tổng tài sản chỉ đứng sau Agribank, Vietcombank, VietinBank và BIDV. 

Theo CEO Sacombank, đề án sáp nhập sẽ thống nhất giữ toàn bộ nhân sự của hai bên. Thương hiệuSouthernbank sau đó sẽ không còn tồn tại, thay vào đó là cái tên hợp nhất Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. 

Nếu thương vụ thành công, ngân hàng sau sáp nhập có vốn điều lệ gần 16.500 tỷ đồng (bằng tổng vốn điều lệ hiện tại của Sacombank 12.425 tỷ đồng và Phương Nam 4.000 tỷ đồng), với tổng tài sản khoảng 240.000 tỷ đồng đưa quy mô nhà băng vươn lên, chỉ đứng sau "4 ông lớn quốc doanh". 

Phương án sáp nhập Sacombank với một ngân hàng khác đã được thị trường bàn luận từ lâu, đặc biệt sau khi Eximbank chính thức trở thành cổ đông lớn nhất vào đầu tháng 1.2012, khởi đầu cho hàng loạt biến cố dẫn tới sự chuyển giao quyền lực giữa cha con người sáng lập Đặng Văn Thành với các cổ đông ngoài gia đình. Sacombank thời hậu ông Đặng Văn Thành cũng đã vài lần xác nhận khả năng sáp nhập với Southernbank rồi sau đó là Eximbank. 

Gần đây, người ta nhắc nhiều hơn tới khả năng Sacombank và Southernbank về một nhà, khi mà gia đình ông Trầm Bê cùng lúc có vai trò quan trọng ở cả hai ngân hàng. Tại Southernbank, ông Trầm Bê và các con đang nắm giữ trên 20% cổ phần, vượt quy định của Ngân hàng Nhà nước. Còn tại Sacombank, ông Trầm Bê đang là Phó chủ tịch thường trực và con trai là thành viên Hội đồng quản trị. Ông không sở hữu cổ phiếu Sacombank, nhưng các con đang nắm khối lượng lớn. 

Trong lộ trình tái cơ cấu bắt đầu từ năm 2012 đến nay, Thống đốc Nguyễn Văn Bình nhiều lần nhắc tới kế hoạch sáp nhập để cho ra đời một số ngân hàng quy mô lớn tầm khu vực, bên cạnh việc xử lý những đơn vị quy mô nhỏ hoạt động không hiệu quả và không minh bạch về quản trị, sở hữu. 

Sacombank và Sourthenbank nếu thành sẽ là vụ sáp nhập đình đám tiếp theo trên thị trường, sau hợp nhất 3 nhà băng tại TP.HCM vào cuối năm 2011; Habubank-SHB sáp nhập ở Hà Nội năm 2012 và gần đây nhất là hợp nhất Western Bank với Công ty Tài chính PVFC. 

Tới đây, không loại trừ khả năng các ngân hàng quốc doanh sẽ tìm kiếm để hợp nhất, sáp nhập một số ngân hàng cổ phần quy mô nhỏ.

http://xalo.vn/news/tl/80-ngan-hang-tai-Viet-Nam-dang-ao-hoa-may-chu/1888310-0-1-20-1057682.htm

Điểm mặt giới siêu giàu trong lĩnh vực tài chính

Những chủ ngân hàng không sở hữu cổ phiếu

Ngân hàng cứu Gỗ Trường Thành

CƠ SỞ HẠ TẦNG TÀI CHÍNH

Hệ thống luật pháp và quản lý của nhà nước: Tính đến thời điểm hiện tại, với bối cảnh và điều kiện thực tiễn
ở Việt Nam thì hệ thống luật pháp được đánh giá là tương đối đầy đủ để hệ thống tài chính hoạt động.
Hiện đã có Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức tín dụng, Luật  Kinh
doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán. Tuy nhiên vấn đề quản lý nhà nước chưa thực sự đồng bộ và thống
nhất. Một số tổ chức có quy mô hoạt động tín dụng rất lớn nhưng không chịu sự chi phối của Luật các Tổ
chức tín dụng và chịu sự giám sát  rất hạn chế  của Ngân hàng  Nhà nước như  Ngân hàng Phát triển Việt
Nam (tiền thân là Quỹ Hỗ trợ phát triển) và các quỹ đầu tư phát triển địa phương.
Nguồn lực và thông lệ giám sát: Theo đánh giá thì nguồn lực và các thông lệ giám sát chưa đáp ứng nhu cầu
cho hệ thống tài chính hoạt động lành mạnh, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Cung cấp thông tin:  Hiện nay các ngân hàng nói riêng, các tổ chức tài chính nói chung đang từng bước áp
dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế. Các quy định về kiểm toán vẫn chưa thực sự đầy đủ và được tuân
thủ một cách nghiêm ngặt. Hiện vẫn chưa có hệ thống lưu trữ thông tin tín dụng và tổ chức xếp loại tín
dụng đủ độ tín cậy. Hiện trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang
đảm nhận nhiệm vụ này. Tuy nhiên để trở thành một tổ chức có độ tin cậy cao thì CIC còn rất nhiều việc
phải làm.
Hệ thống thanh toán:  Trước năm 2000, hầu hết các tổ chức tài chính ở Việt Nam sử dụng hệ thống thanh
toán phân tán. Nhưng từ năm 2000 đến nay, các tổ chức tài chính, nhất là các ngân hàng thương mại đã
xây dựng hệ thống thanh toán tập trung. Từ năm 2002, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai hệ
thống thanh toán liên ngân hàng. Đây là một bước tiến trong việc áp dụng công nghệ thanh toán của hệ
thống tài chính Việt Nam.

CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH

Trong các giáo trình thường chia các công cụ tài chính  trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường
ngoại hối, công cụ tài chính phái sinh ... Việc chia này cũng có tính chất tương đối vì nhiều loại công cụ
tài chính được giao dịch trên nhiều thị trường khác nhau. Ví dụ: các loại công cụ tài chính phái   sinh có
thể được giao dịch trên thị trường tiện tệ, thị trường vốn, thị ngoại hối, thị trường nông sản... hay ở Việt
Nam, trái phiếu chính phủ vẫn có thể giao dịch trên thị trường tiền tệ,..
Hiện tại trên thị trường tài chính Việt Nam có các loại công cụ tài chính sau:
Các khoản cho vay của các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác: Phần này chiếm tỷ trọng chủ yếu trong việc
phân phối vốn cho nền kinh tế.
Trái phiếu chính phủ:  Các trái phiếu chính phủ được đấu thầu và giao dịch chủ yếu qua Sở GDCK Hà Nội.
Ngoài ra trái phiếu chính phủ còn được phát hành thông qua hệ thống các kho bạc nhà nước địa phương.
Tín phiếu kho bạc: Loại này do Kho bạc nhà nước phát hành và được đấu giá chủ yếu thông qua thị trường
mở của Ngân hàng nhà nước. Đây là một công cụ huy động nguồn vốn cho chi tiêu ngân sách rất quan
trọng của chính phủ.
Trái phiếu đô thị: Do các chính quyền địa phương (tỉnh, thành phố) phát hành. Một số địa phương đã phát
hành trái phiếu đô thị bao gồm TP.HCM, Hà Nội, Đồng Nai, và gần đây là Đà Nẵng.   Các  địa phương
khác thường huy động tín dụng quy kênh ngân hàng theo điều 8 khoản 3 của Luật Ngân sách 2002.
Trái phiếu công ty:  Loại này tương đối ít, chủ yếu do các ngân hàng thương mại,  các tổ chức tài chính, và
một số công ty lớn phát hành.  Tính đến cuối quý I/2013, dư nợ trái phiếu tiền đồng của 15 công ty phát
hành lớn nhất chiếm đến 96% tổng thị trường trái phiếu công ty tiền đồng. Trong số 15 công ty này, 6
công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản chiếm 38% tổng dư nợ trái phiếu công ty.
Chứng chỉ  tiền gửi:  Theo phân loại trong các giáo trình thì chứng chỉ tiền gửi là công cụ tài chính của thị
trường tiền tệ, nhưng đặc trưng của Việt Nam, chứng chỉ tiền gửi là một loại giấy tờ có giá do các ngân
hàng phát hành có thời hạn trên 1 năm với những đặc điểm tương tự như trái phiếu. Loại hình giấy tờ có
giá do các ngân hàng thương mại phát hành có thời hạn dưới một năm được gọi là kỳ phiếu.
Cổ phiếu: Hiện ở Việt Nam đã có rất nhiều công ty cổ phần nên loại hình này tương đối phổ biến.
Hợp đồng mua lại chứng khoán: Các hợp đồng mua lại đã hình thành và đặc biệt trở nên phổ biến trong giai
đoạn 2006-2007 gắn với giai đoạn phát triển nóng của thị trường chứng khoán.
Phiếu nợ thương mại (thương phiếu):  Hiện đã có Luật các Công cụ chuyển nhượng  (2005)  quy định về việc
phát hành, lưu thông, trao đổi, chuyển nhượng và chiết khấu thương phiếu, tuy nhiên nhìn chung  đến
nay, công cụ này vẫn rất hiếm khi được doanh nghiệp phát hành.
Hối phiếu có ngân hàng chấp thuận: Hiện loại hình này thực hiện trong các giao dịch ngoại thương.
Vay liên ngân hàng:  Đây là loại hình giao dịch rất phổ biến giữa các ngân hàng thương mại với nhau. Các
loại hình cho vay phổ biến gồm, cho vay qua đêm, cho vay có kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng.
Euro Đô-la: Ở Việt Nam không có công cụ này.
Vay thế chấp mua bất động sản:  Hiện ở Việt Nam đã có công cụ này và các ngân hàng thương mại cổ phần
đi đầu trong việc cho vay theo phương thức này.

Các loại công cụ tài chính phái sinh
Hợp đồng kỳ hạn (Forward contract): Hiện trên thị trường Việt Nam có loại hình giao dịch này và chủ yếu là
các hợp đồng mua bán ngoại tệ.
Hợp đồng tương lai (Future contract): Hiện ở Việt Nam chưa có.
Hoán đổi (Swap): Hiện ở Việt Nam đã có loại hình này, nhưng lượng giao dịch rất hạn chế. Các giao dịch
chủ yếu được thực hiện trên thị  trường ngoại hối. Các loại hình hoán đổi khác như lãi suất … hầu như
chưa xuất hiện.
Quyền chọn:  Hiện một số ngân hàng Việt Nam đã có loại hình giao dịch này, nhưng khối lượng giao dịch
là rất hạn chế. Chưa có tổ chức tài chính nào thực sự bán quyền chọn  mà chỉ thực hiện dưới hình thức là
các trung gian.

CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH

Các tổ chức tài chính ở Việt Nam bao gồm:

1. Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng
- Ngân hàng Trung ương;
- Các tổ chức tín dụng
Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam về các tổ chức tín dụng năm 1997,  được sửa đổi vào các năm 2004 và 2010, thì: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng. Bao gồm: Các ngân hàng và Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

2. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và các tổ chức hoạt động trên TTCK
- Uỷ ban chứng khoán nhà nước:  Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước khi mới thành lập là cơ quan trực thuộc Chính phủ, năm 2004 chuyển thành cơ quan trực thuộc Bộ tài chính. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước  có nhiệm vụ chính trong việc tổ chức và giám sát các hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.

- Các  công  ty  chứng  khoán:  Đến  đầu  2013,  trên  thị  trường  chứng  khoán  Việt  Nam  có  106  công  ty  chứng khoán hoạt động với chức năng là các tổ chức môi giới trên  thị trường chứng khoán như lập các thủ tục phát hành, bảo lãnh phát hành chứng khoán …

- Ngân hàng chỉ định thanh toán: Trên thị trường có 1 ngân hàng chỉ định thanh toán là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

- Ngân  hàng  lưu  ký  chứng  khoán:  Việt  Nam  hiện  có  7  ngân  hàng  lưu  ký  chứng  khoán,  trong  đó  có  6  chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 1 ngân hàng Việt Nam (Ngân hàng TMCP Tiên Phong).

CÁC NGÂN HÀNG LƯU KÝ CHỨNG KHOÁN
1  Ngân hàng Citibank N.A, chi nhánh Hà Nội
2  Ngân hàng Deutsche Bank AG- Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
3  Ngân Hàng Far East National Bank – Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh
4  Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
5  Ngân Hàng JPMorgan Chase N.A – Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh
6  Ngân hàng Standard Chartered - Chi nhánh Hà Nội
7  Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong.

- Công ty quản lý quỹ đầu tư:  Tính đến đầu 2013, có 47  công ty quản lý quỹ đầu tư  chứng khoán đang hoạt động.

- Các công ty niêm yết: Tính đến đầu 2013, có trên 700 công ty cổ phần niêm yết trên cả hai sàn chứng khoán trong tổng số hơn 1.033 công ty đại chúng đã đăng ký công bố thông tin  với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Ngoài ra còn có 24 quỹ đầu tư, với quy mô vốn điều lệ khoảng gần 14,5 nghìn tỷ đồng, đóng vài trò đáng
kể  trên  thị  trường  chứng  khoán  nói  riêng,  thị  trường  tài  chính  nói  chung  là  Dragon  Capital,  Mekong Capital, Vinacapital, Indochina Capital, Quỹ đầu tư mạo hiểm của tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDG) và một số công ty quản lý quỹ như Công ty  quản lý quỹ đầu tư Việt  Nam, Công  ty quản lý quỹ Thành Việt,
Công ty quản lý quỹ Manulife và Công ty quản lý quỹ Frudential, Finansa, FXF Vietnam. Các quỹ đầu tư
này vừa tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán, vừa đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp.

 DANH SÁCH CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1  Quỹ thành viên Con Hổ Việt Nam  500.000.000.000  Đóng
2  Quỹ Thành viên Việt Nhật FPT  1.123.300.000.000  Đóng
3  Quỹ Thành viên Y tế Bản Việt  500.000.000.000  Đóng
4  Quỹ Tầm Nhìn SSI  1.700.000.000.000  Đóng
5  Quỹ Đầu tư Chứng khoán Bản Việt  792.000.000.000  Đóng
6  Quỹ Đầu tư Chứng khoán Bảo Việt  1.000.000.000.000  Đóng
7  Quỹ Đầu tư Chứng khoán Hà Nội  200.000.000.000  Đóng
8  Quỹ Đầu tư Chứng khoán Sài Gòn A1  33.350.000.000  Đóng
9  Quỹ Đầu tư Chứng khoán Sài Gòn A2  500.000.000.000  Đóng
10  Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank 1  150.000.000.000  Đóng
11  Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank 2  1.010.520.000.000  Đóng
12  Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank3  445.000.000.000
13  Quỹ Đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VF1)  1.000.000.000.000  Đóng
14  Quỹ Đầu tư Cân bằng Prudential (PRUBF1)  500.000.000.000  Đóng
15  Quỹ Đầu tư Cổ phần MB Capital 1  200.000.000.000  Đóng
16  Quỹ Đầu tư Doanh nghiệp Hàng đầu Việt Nam (VF4)  806.460.000.000  Đóng
17  Quỹ Đầu tư Năng động Việt Nam (VFA)  240.000.000.000  Đóng
18  Quỹ Đầu tư Sabeco 1  350.000.000.000  Đóng
19  Quỹ Đầu tư Thành viên SSI  360.000.000.000  Đóng
20  Quỹ Đầu tư Tăng trường ACB  240.080.000.000  Đóng
21  Quỹ Đầu tư Tăng trưởng Manulife  214.090.000.000
22  Quỹ Đầu tư Tăng trưởng Việt Long  300.000.000.000  Đóng
23  Quỹ Đầu tư Tăng trưởng Việt Nam (VF2)  962.970.000.000  Đóng
24  Quỹ Đầu tư Việt Nam

THỐNG KÊ LOẠI HÌNH CÔNG TY HOẠT ĐỘNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Công ty đại chúng đã đăng ký công bố thông tin  1033
Công ty chứng khoán  106
Công ty quản lý quỹ  47
VPĐD tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài  31
Ngân hàng lưu ký  7
Ngân hàng chỉ định thanh toán  1
Tổ chức kiểm toán được chấp nhận  43
Quỹ đầu tư chứng khoán  24

3. Các công ty bảo hiểm
Các công ty bảo hiểm: Việt Nam hiện có 57 công ty bảo hiểm  và môi giới bảo hiểm đang hoạt động tại Việt
Nam với tổng tài sản trên 107 nghìn tỷ đồng  (2011), trong đó gồm 26 công ty TNHH 1 thành viên, 8 công
ty TNHH 2 thành viên trở lên, và 23 công ty cổ phần. Bên cạnh đó còn có sự góp mặt của hơn 32 văn
phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam.
10
Quy mô thị trường:  Quy mô thị trường bảo hiểm Việt Nam tính đến cuối năm 2012 đạt khoảng trên 56,5
nghìn tỷ đồng, trong đó gần 44 nghìn tỷ đồng là doanh thu phí bảo hiểm, còn lại khoảng 12,5 nghìn tỷ là
doanh  thu  đầu  tư.  Năm  2012,  Thị  trường  bảo  hiểm  phi  nhân  thọ  đạt  doanh  thu  22.757  tỷ  đồng  tăng
trưởng  10,33%,  bồi  thường  đạt  8.873  tỷ  đồng,  tỉ lệ  bồi  thường  39%.  Dẫn  đầu  doanh  thu  khai  thác  bảo
hiểm gốc là Bảo Việt, PVI, Bảo Minh, PJICO; trong khi các doanh nghiệp tăng trưởng doanh thu cao là
Cathay (138,34%), Samsung Vina (66,80%), PTI (53,27%), ACE (48,19%).  Về bảo hiểm nhân thọ, tổng số
lượng hợp đồng có hiệu lực cuối 2012 là 4.764.108 hợp đồng. Các doanh nghiệp có số lượng hợp đồng có
hiệu  lực  lớn  là  Prudential  (2.016.855  hợp  đồng),  Bảo  Việt  Nhân  thọ  (1.275.369  hợp  đồng),  Manulife
(390.571 hợp đồng).

 SỐ LƯỢNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM
1999  2002  2006  2007  2008  2009  2011
Công ty BH phi nhân thọ  10  13  21  22  27  28  29
Công ty BH nhân thọ  3  4  7  9  11  11  14
Công ty tái bảo hiểm  1  1  1  1  1  1  2
Công ty môi giới bảo hiểm  1  2  8  8  10  10  12
Tổng số  15  20  37  40  49  50  57
Hệ thống tài chính Việt Nam    NV05-53-83
Trang 25/25
PHỤ LỤC 13. LOẠI HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM (tính đến đầu 2012)
Loại hình bảo hiểm
TNHH 1
thành viên
TNHH 2
thành viên trở lên
Cổ phần  Tổng cộng
Bảo hiểm phi nhân thọ  11  3  15  29
Bảo hiểm nhân thọ  11  3  0  14
Tái bảo hiểm  1  0  1  2
Môi giới bảo hiểm  3  2  7  12
Tổng cộng  26  8  23  57

 4.  Một số loại hình tổ chức tài chính khác
Quỹ lương hưu:  Đến nay, Việt Nam chưa có quỹ lương hưu, nhưng có một quỹ rất lớn đó là bảo hiểm xã
hội Việt Nam. Phần thặng dư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam chủ yếu chuyển sang Quỹ Hỗ trợ phát triển
(hiện nay là VDB).
Tiết kiệm bưu điện: Đây là tổ chức thực hiện các loại hình huy động tiết kiệm nhỏ lẻ dựa trên hệ thống bưu
cục rộng khắp của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam.  Tháng 2/2011,  được sự cho phép của
Thủ tướng Chính phủ,  Tổng công ty Bưu chính Việt Nam đã tham gia góp vốn vào Ngân hàng TMCP
Liên  Việt bằng giá trị Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (và bằng tiền).  Tính đến hết năm 2012, số dư
huy động tiết kiệm bưu điện đạt trên 10.200 tỷ đồng, tăng 3.700 tỷ đồng so với thời điểm trước sáp nhập.
Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát triển của các tỉnh, thành phố: Quỹ hỗ trợ phát triển là tổ chức cấp
tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước (tín dụng chỉ định) cho các dự án.  Từ năm 2006, Quỹ Hỗ trợ phát
triển đã chuyển đổi sang mô hình ngân hàng phát triển (VDB) và vẫn  trực thuộc Bộ Tài chính. Hiện VDB
có tổng tài sản trên 178,6 nghìn tỷ đồng, với vốn điều lệ khoảng 10,8 nghìn tỷ đồng.  Các quỹ đầu tư phát
triển địa phương trực thuộc các Ủy  ban Dhân dân tỉnh, thành phố. Các quỹ này có nhiệm vụ cho vay các
dự án theo định hướng phát triển của từng địa phương.  VDB  và các quỹ đầu tư phát triển của các địa
phương hoạt động không chịu sự chi phối của Luật  Các tổ chức tín dụng và không chịu sự giám sát của
Ngân hàng Nhà nước.

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

Hệ thống tài chính là tổng thể các mối quan hệ tài chính và các tổ chức bộ máy thực hiện các chức năng tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hệ thống tài chính bao gồm các bộ phận hợp thành với tư cách là các tụ điểm tài chính.

Dưới đây là các yếu tố hợp thành hệ thống tài chính:

a) Ngân sách nhà nước và chính sách tài khoá

- Ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu được của Nhà nước để bảo đảm các khoản chi cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước.

Trong hệ thống tài chính, ngân sách nhà nước là bộ phận chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước do Hiến pháp quy định. Ngân sách nhà nước còn là công cụ quan trọng của Nhà nước có tác dụng điều tiết vĩ mô đời sống kinh tế, xã hội và bảo đảm an ninh- quốc phòng.

Cơ cấu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu và chi. Các khoản thu gồm có :
+  Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí.
+ Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước.
+ Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân.
+ Các khoản viện trợ.
+ Các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi được đưa vào cân đối ngân sách nhà nước.
+ Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Các khoản chi ngân sách nhà nước gồm có:
+ Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội.
+ Các khoản chi bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước.
+ Các khoản chi trả nợ của Nhà nước.
+ Các khoản chi dự trữ nhà nước (từ 3% đến 5% tổng số dư).
+ Các khoản chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

- Chính sách tài khoá:
Chính sách tài khoá là chính sách của Nhà nước trong việc huy động các nguồn thu vào ngân sách nhà nước và sử dụng nó trong thời hạn nhất định (thường là 1 năm).

Chính sách tài khoá có tác động đến sản lượng thực tế, đến giải quyết lạm phát và thất nghiệp. Nó cũng có tác động đến việc điều chỉnh nhịp độ phát triển nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong từng thời kỳ.

Mục tiêu của chính sách tài khoá là bảo đảm các nguồn lực tài chính, tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

Để đạt mục tiêu trên đây, chính sách tài khoá phải xử lý nhiều mối quan hệ, trong đó có những quan hệ (nội dung) cốt lõi. Thông thường giải quyết đúng đắn những quan hệ mâu thuẫn sau đây chính là giải quyết nội dung cốt lõi của chính sách tài khoá:

+ Mâu thuẫn giữa thu và chi ngân sách nhà nước.
+ Mâu thuẫn giữa tập trung vào ngân sách nhà nước với tích luỹ, tích tụ trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
+ Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện công bằng xã hội.

b) Tài chính doanh nghiệp

Đây là bộ phận tài chính gắn với các quỹ giá trị phục vụ mục đích phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hoá hay dịch vụ... Sự tạo lập các quỹ này ban đầu có thể dựa vào thị trường tài chính, thu hút vốn qua việc huy động vốn cổ phần hay vay (phát hành trái phiếu, vay ngân hàng). Sau đó, các quỹ giá trị này được bổ sung, tái tạo nhờ sự xuất hiện các nguồn tài chính trong doanh nghiệp thông qua việc phân phối để tạo lập các quỹ bù đắp, các quỹ từ lợi nhuận. Mỗi quỹ giá trị trong doanh nghiệp đều có vai trò nhất định, phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của những người tham gia sản xuất, kinh doanh. Tài chính doanh nghiệp có quan hệ với các bộ phận khác  của hệ thống tài chính trong nước. Thí dụ, nó có quan hệ với tài chính hộ gia đình thông qua trả lương, thưởng, lợi tức cổ phần, trái phiếu; với ngân sách nhà nước thông qua nộp thuế; với ngân hàng thông qua các hình thức tín dụng ...

c) Tài chính của các tổ chức tín dụng, công ty tài chính

Hoạt động của các tổ chức này gắn liền với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ thông qua thu hút các nguồn tài chính nhàn rỗi theo nguyên tắc hoàn trả có thời hạn và có lợi tức. Các quỹ này được các tổ chức tín dụng và công ty tài chính sử dụng cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đời sống.

d) Bảo hiểm

Đây là hình thức tài chính nảy sinh trong việc giải quyết những rủi ro có thể xảy ra trong sản xuất và đời sống xã hội. Hoạt động bảo hiểm được thực hiện thông qua ngành bảo hiểm. Thông qua huy động, nó có tác dụng huy động nguồn vốn lớn qua nhiều đối tượng và nhiều hình thức để cung ứng cho thị trường tài chính.

e) Tài chính hộ gia đình và các tổ chức xã hội

Quỹ tài chính của các hộ gia đình được hình thành từ các thu nhập, tiền lương của các thành viên trong gia đình do lao động sản xuất, kinh doanh, do thừa kế tài sản, quà tặng. Quỹ này trước hết dành cho tiêu dùng và khi có tiền nhàn rỗi sẽ tham gia các quỹ tín dụng, góp cổ phần, mua cổ phiếu, trái phiếu. Một phần trong quỹ này tham gia đóng góp vào ngân sách nhà nước dưới các hình thức thuế và một phần tham gia các quỹ bảo hiểm. Quỹ tài chính của các tổ chức xã hội hiện nay chủ yếu được hình thành bằng tài trợ từ ngân sách nhà nước. Nhưng trong thời gian tới phải dần dần hình thành từ các nguồn như: hội phí, quyên góp ủng hộ của dân cư và các tổ chức, của người nước ngoài. Mục đích của các quỹ này là phục vụ cho các mục tiêu hoạt động của các tổ chức xã hội. Khi một bộ phận quỹ tiền tệ nhàn rỗi, nó có thể tham gia tích cực vào thị trường tài chính theo các hình thức thích hợp.

Nguồn:  CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

Tại Việt Nam, HTTC dựa trên 4 thành tố chính sau: Thị trường tài chính, các tổ chức tài chính, các công cụ tài chính, cơ sở hạ tầng tài chính. Trong đó, các Ngân hàng đóng vai trò chủ đạo. Sức khỏe của hệ thống ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống tài chính và toàn bộ nền kinh tế nói chung.

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013

Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TienPhong Bank)

Từ nay đến 31.12.2013, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TienPhong Bank) triển khai chương trình “2.500 tỉ đồng tín dụng ưu đãi” - cho vay lãi suất thấp nhằm hỗ trợ DN chủ động nguồn vốn, yên tâm kinh doanh.

DN có thể vay tới 90% giá trị hợp đồng bằng USD hoặc VND với lãi suất đặc biệt ưu đãi chỉ từ 9,0%/năm đối với VND hoặc 4.8%/năm đối với USD trong 3 tháng đầu tiên. DN còn được miễn giảm tới 100% phí chuyển tiền trong nước và quốc tế tương ứng với doanh số giải ngân.
Sau thời gian ưu đãi, TienPhong Bank cam kết lãi suất tín dụng sẽ được ấn định hợp lý nhất, dựa trên lãi suất tiết kiệm do Ngân hàng Nhà nước quy định và biên độ lãi vay thấp.

Trong khuôn khổ Diễn đàn Ngân hàng Đông Nam Á (ASEAN Banker Forum - ABF), Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) đã được Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam kết hợp với Tập đoàn dữ liệu quốc tế IDG trao giải “Vietnam Outstanding Banking Award 2013 - Ngân hàng sáng tạo tiêu biểu Việt Nam 2013”.



Cùng với TPBank, Vietinbank, Techcombank, HD Bank, Citi Bank và OceanBank cũng được trao giải Vietnam Outstanding Banking Award 2013. Đây là giải thưởng nhằm tôn vinh các ngân hàng có những thành tựu và đóng góp tiêu biểu cho ngành tài chính - ngân hàng trong năm 2013.

Bảy ngân hàng tiêu biểu năm 2013


(TNO) Ngày 19.11, trong khuôn khổ Diễn đàn Ngân hàng Đông Nam Á (ASEAN Banker Forum - ABF), Hiệp hội Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kết hợp với Tập đoàn dữ liệu quốc tế IDG trao giải các ngân hàng tiêu biểu tại Việt Nam năm 2013.

Theo đó, giải thưởng Ngân hàng bán lẻ tiêu biểu thuộc về Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), giải thưởng Ngân hàng điện tử tiêu biểu thuộc về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), giải thưởng Ngân hàng có hệ thống an ninh thông tin tiêu biểu thuộc về Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank), giải thưởng Ngân hàng có chi nhánh giao dịch tiêu biểu thuộc về Vietinbank, giải thưởng Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tiêu biểu thuộc về Citibank, giải thưởng Ngân hàng có sản phẩm dịch vụ sáng tạo tiêu biểu thuộc về Ngân hàng TMCP Đại Dương (Oceanbank) và Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TienphongBank).

TienPhong Bank vừa nhận giải thưởng Tin và Dùng 2013 cho dịch vụ ngân hàng điện tử, do độc giả Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Tư vấn Tiêu & Dùng bình chọn.

Chỉ sau 2 năm xây dựng, TienPhong Bank đã trở thành một trong 5 ngân hàng đầu tiên ở VN có đầy đủ các ứng dụng Internet Banking và Mobile Banking.
Mạng lưới kết nối đa dạng của TienPhong Bank với các đối tác cho phép khách hàng thanh toán thuận tiện với mức chi phí rất thấp so với các hình thức truyền thống.

TienPhong Bank hiện cung cấp đến khách hàng các sản phẩm dịch vụ trực tuyến tiện ích vượt trội: thanh toán trực tuyến, kê khai và nộp thuế trực tuyến, chuyển tiền liên ngân hàng qua thẻ ngay lập tức...