Các tổ chức tài chính ở Việt Nam bao gồm:
1. Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng
- Ngân hàng Trung ương;
- Các tổ chức tín dụng
Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam về các tổ chức tín dụng năm 1997, được sửa đổi vào các năm 2004 và 2010, thì: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng. Bao gồm: Các ngân hàng và Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
2. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và các tổ chức hoạt động trên TTCK
- Uỷ ban chứng khoán nhà nước: Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước khi mới thành lập là cơ quan trực thuộc Chính phủ, năm 2004 chuyển thành cơ quan trực thuộc Bộ tài chính. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có nhiệm vụ chính trong việc tổ chức và giám sát các hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Các công ty chứng khoán: Đến đầu 2013, trên thị trường chứng khoán Việt Nam có 106 công ty chứng khoán hoạt động với chức năng là các tổ chức môi giới trên thị trường chứng khoán như lập các thủ tục phát hành, bảo lãnh phát hành chứng khoán …
- Ngân hàng chỉ định thanh toán: Trên thị trường có 1 ngân hàng chỉ định thanh toán là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
- Ngân hàng lưu ký chứng khoán: Việt Nam hiện có 7 ngân hàng lưu ký chứng khoán, trong đó có 6 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 1 ngân hàng Việt Nam (Ngân hàng TMCP Tiên Phong).
CÁC NGÂN HÀNG LƯU KÝ CHỨNG KHOÁN
1 Ngân hàng Citibank N.A, chi nhánh Hà Nội
2 Ngân hàng Deutsche Bank AG- Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
3 Ngân Hàng Far East National Bank – Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh
4 Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
5 Ngân Hàng JPMorgan Chase N.A – Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh
6 Ngân hàng Standard Chartered - Chi nhánh Hà Nội
7 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong.
- Công ty quản lý quỹ đầu tư: Tính đến đầu 2013, có 47 công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán đang hoạt động.
- Các công ty niêm yết: Tính đến đầu 2013, có trên 700 công ty cổ phần niêm yết trên cả hai sàn chứng khoán trong tổng số hơn 1.033 công ty đại chúng đã đăng ký công bố thông tin với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Ngoài ra còn có 24 quỹ đầu tư, với quy mô vốn điều lệ khoảng gần 14,5 nghìn tỷ đồng, đóng vài trò đáng
kể trên thị trường chứng khoán nói riêng, thị trường tài chính nói chung là Dragon Capital, Mekong Capital, Vinacapital, Indochina Capital, Quỹ đầu tư mạo hiểm của tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDG) và một số công ty quản lý quỹ như Công ty quản lý quỹ đầu tư Việt Nam, Công ty quản lý quỹ Thành Việt,
Công ty quản lý quỹ Manulife và Công ty quản lý quỹ Frudential, Finansa, FXF Vietnam. Các quỹ đầu tư
này vừa tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán, vừa đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp.
DANH SÁCH CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1 Quỹ thành viên Con Hổ Việt Nam 500.000.000.000 Đóng
2 Quỹ Thành viên Việt Nhật FPT 1.123.300.000.000 Đóng
3 Quỹ Thành viên Y tế Bản Việt 500.000.000.000 Đóng
4 Quỹ Tầm Nhìn SSI 1.700.000.000.000 Đóng
5 Quỹ Đầu tư Chứng khoán Bản Việt 792.000.000.000 Đóng
6 Quỹ Đầu tư Chứng khoán Bảo Việt 1.000.000.000.000 Đóng
7 Quỹ Đầu tư Chứng khoán Hà Nội 200.000.000.000 Đóng
8 Quỹ Đầu tư Chứng khoán Sài Gòn A1 33.350.000.000 Đóng
9 Quỹ Đầu tư Chứng khoán Sài Gòn A2 500.000.000.000 Đóng
10 Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank 1 150.000.000.000 Đóng
11 Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank 2 1.010.520.000.000 Đóng
12 Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank3 445.000.000.000
13 Quỹ Đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VF1) 1.000.000.000.000 Đóng
14 Quỹ Đầu tư Cân bằng Prudential (PRUBF1) 500.000.000.000 Đóng
15 Quỹ Đầu tư Cổ phần MB Capital 1 200.000.000.000 Đóng
16 Quỹ Đầu tư Doanh nghiệp Hàng đầu Việt Nam (VF4) 806.460.000.000 Đóng
17 Quỹ Đầu tư Năng động Việt Nam (VFA) 240.000.000.000 Đóng
18 Quỹ Đầu tư Sabeco 1 350.000.000.000 Đóng
19 Quỹ Đầu tư Thành viên SSI 360.000.000.000 Đóng
20 Quỹ Đầu tư Tăng trường ACB 240.080.000.000 Đóng
21 Quỹ Đầu tư Tăng trưởng Manulife 214.090.000.000
22 Quỹ Đầu tư Tăng trưởng Việt Long 300.000.000.000 Đóng
23 Quỹ Đầu tư Tăng trưởng Việt Nam (VF2) 962.970.000.000 Đóng
24 Quỹ Đầu tư Việt Nam
THỐNG KÊ LOẠI HÌNH CÔNG TY HOẠT ĐỘNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Công ty đại chúng đã đăng ký công bố thông tin 1033
Công ty chứng khoán 106
Công ty quản lý quỹ 47
VPĐD tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài 31
Ngân hàng lưu ký 7
Ngân hàng chỉ định thanh toán 1
Tổ chức kiểm toán được chấp nhận 43
Quỹ đầu tư chứng khoán 24
3. Các công ty bảo hiểm
Các công ty bảo hiểm: Việt Nam hiện có 57 công ty bảo hiểm và môi giới bảo hiểm đang hoạt động tại Việt
Nam với tổng tài sản trên 107 nghìn tỷ đồng (2011), trong đó gồm 26 công ty TNHH 1 thành viên, 8 công
ty TNHH 2 thành viên trở lên, và 23 công ty cổ phần. Bên cạnh đó còn có sự góp mặt của hơn 32 văn
phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam.
10
Quy mô thị trường: Quy mô thị trường bảo hiểm Việt Nam tính đến cuối năm 2012 đạt khoảng trên 56,5
nghìn tỷ đồng, trong đó gần 44 nghìn tỷ đồng là doanh thu phí bảo hiểm, còn lại khoảng 12,5 nghìn tỷ là
doanh thu đầu tư. Năm 2012, Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 22.757 tỷ đồng tăng
trưởng 10,33%, bồi thường đạt 8.873 tỷ đồng, tỉ lệ bồi thường 39%. Dẫn đầu doanh thu khai thác bảo
hiểm gốc là Bảo Việt, PVI, Bảo Minh, PJICO; trong khi các doanh nghiệp tăng trưởng doanh thu cao là
Cathay (138,34%), Samsung Vina (66,80%), PTI (53,27%), ACE (48,19%). Về bảo hiểm nhân thọ, tổng số
lượng hợp đồng có hiệu lực cuối 2012 là 4.764.108 hợp đồng. Các doanh nghiệp có số lượng hợp đồng có
hiệu lực lớn là Prudential (2.016.855 hợp đồng), Bảo Việt Nhân thọ (1.275.369 hợp đồng), Manulife
(390.571 hợp đồng).
SỐ LƯỢNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM
1999 2002 2006 2007 2008 2009 2011
Công ty BH phi nhân thọ 10 13 21 22 27 28 29
Công ty BH nhân thọ 3 4 7 9 11 11 14
Công ty tái bảo hiểm 1 1 1 1 1 1 2
Công ty môi giới bảo hiểm 1 2 8 8 10 10 12
Tổng số 15 20 37 40 49 50 57
Hệ thống tài chính Việt Nam NV05-53-83
Trang 25/25
PHỤ LỤC 13. LOẠI HÌNH CÔNG TY BẢO HIỂM (tính đến đầu 2012)
Loại hình bảo hiểm
TNHH 1
thành viên
TNHH 2
thành viên trở lên
Cổ phần Tổng cộng
Bảo hiểm phi nhân thọ 11 3 15 29
Bảo hiểm nhân thọ 11 3 0 14
Tái bảo hiểm 1 0 1 2
Môi giới bảo hiểm 3 2 7 12
Tổng cộng 26 8 23 57
4. Một số loại hình tổ chức tài chính khác
Quỹ lương hưu: Đến nay, Việt Nam chưa có quỹ lương hưu, nhưng có một quỹ rất lớn đó là bảo hiểm xã
hội Việt Nam. Phần thặng dư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam chủ yếu chuyển sang Quỹ Hỗ trợ phát triển
(hiện nay là VDB).
Tiết kiệm bưu điện: Đây là tổ chức thực hiện các loại hình huy động tiết kiệm nhỏ lẻ dựa trên hệ thống bưu
cục rộng khắp của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Tháng 2/2011, được sự cho phép của
Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty Bưu chính Việt Nam đã tham gia góp vốn vào Ngân hàng TMCP
Liên Việt bằng giá trị Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (và bằng tiền). Tính đến hết năm 2012, số dư
huy động tiết kiệm bưu điện đạt trên 10.200 tỷ đồng, tăng 3.700 tỷ đồng so với thời điểm trước sáp nhập.
Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư phát triển của các tỉnh, thành phố: Quỹ hỗ trợ phát triển là tổ chức cấp
tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước (tín dụng chỉ định) cho các dự án. Từ năm 2006, Quỹ Hỗ trợ phát
triển đã chuyển đổi sang mô hình ngân hàng phát triển (VDB) và vẫn trực thuộc Bộ Tài chính. Hiện VDB
có tổng tài sản trên 178,6 nghìn tỷ đồng, với vốn điều lệ khoảng 10,8 nghìn tỷ đồng. Các quỹ đầu tư phát
triển địa phương trực thuộc các Ủy ban Dhân dân tỉnh, thành phố. Các quỹ này có nhiệm vụ cho vay các
dự án theo định hướng phát triển của từng địa phương. VDB và các quỹ đầu tư phát triển của các địa
phương hoạt động không chịu sự chi phối của Luật Các tổ chức tín dụng và không chịu sự giám sát của
Ngân hàng Nhà nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét