Ngày 30/10, Ngân hàng Nhà nước tổ chức buổi tọa đàm nhìn lại
việc điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2011 - 2013. Hầu hết các ý
kiến tham gia đều hài lòng với những gì đã làm được.
“Mấy
năm trước, lãi suất rất cao, doanh nghiệp vẫn vay rất nhiều. Doanh
nghiệp uống thuốc độc giải khát và sau đó là nợ xấu tăng cao”, TS. Lê
Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh doanh (BDI), một
trong những thành viên ở bàn chủ tọa, gợi về một giai đoạn khó khăn của
nền kinh tế, bắt đầu từ năm khủng hoảng 2008.
“Thế bây giờ chúng ta có gì?”, ông Nghĩa đặt vấn đề.
Căn bệnh kinh niên đang trở lại?
Dẫn
lại hình ảnh “doanh nghiệp uống thuốc độc giải khát” nói trên, ông Lê
Xuân Nghĩa nhấn mạnh đến khó khăn nổi bật những năm trước là lạm phát,
lãi suất quá cao; rồi sự nhiễu động của vàng và “đô” gây mất lòng tin
trong nhân dân…
Và nay, chuyên gia này gạch đầu dòng những kết
quả mà ông nhấn mạnh ở nỗ lực của chính sách tiền tệ: lạm phát đã về mức
thấp 6 - 7%; dự trữ ngoại hối từ 7 tỷ USD tăng lên 27 - 28 tỷ USD; tỷ
giá USD/VND ổn định; thị trường vàng ổn định, vàng đã được đẩy ra khỏi
tài sản nợ của các ngân hàng, chấm dứt vàng hóa trong hệ thống; lãi suất
đã giảm đáng kể và giữ được chênh lệch lãi suất giữa nội tệ với ngoại
tệ để hạn chế sự chuyển đổi tài sản…
Tuy nhiên, ở tình hình vĩ
mô, ông Nghĩa nói hình ảnh rằng, nếu Việt Nam đi trên một con đường
thẳng, mệt và ngồi nghỉ rồi đi tiếp thì khác, nhưng đây lại rơi xuống
một hố bùn, lên khỏi hố bùn đó là vấn đề rất khó khăn.
Để lên
khỏi hố bùn, cần sự phối hợp tốt giữa các chính sách. Một lần nữa, mối
quan hệ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ lại được TS. Lê
Xuân Nghĩa nhấn mạnh ở “căn bệnh kinh niên”, theo cách gọi của ông, có
vẻ như đang trở lại.
“Tài khóa lấn át tiền tệ là bệnh kinh niên
của Việt Nam. Những năm vừa rồi chúng ta tập trung chống lạm phát thì đỡ
đi, nhưng bây giờ thì có vẻ lại phục hồi cái bệnh kinh niên này. Tức là
nhiều vấn đề thuộc chính sách tài khóa lại giao cho chính sách tiền tệ
phải làm”, ông Nghĩa nhìn nhận.
Và chuyên gia này dẫn ra các ví
dụ cụ thể, như: hàng loạt các hỗ trợ cho 5 lĩnh vực ưu tiên lẽ ra của
chính sách tài khóa thì lại qua ngân hàng, dùng tiền của ngân hàng trung
ương; hay ví dụ tạm ứng cho ngân sách như để giải phóng mặt bằng quốc
lộ 1, hay tạm ứng ngân sách đối ứng giải ngân vốn ODA, 30.000 tỷ đồng hỗ
trợ vay mua nhà (“may mà giải ngân đang còn thấp”), rồi xử lý nợ xấu
qua VAMC cũng có thể tới 100.000 tỷ đồng, hay một vài lĩnh vực khác
“không thể nói ra”… đều qua Ngân hàng Nhà nước.
Rồi ông lo ngại:
“Có một nguy cơ là chúng ta quay trở lại làm tái phát cái bệnh cũ, sự
lấn át của chính sách tài khóa đối với chính sách tiền tệ và nguy cơ lạm
phát trong dài hạn là đáng ngại nếu cứ như vậy”.
Xử được “tam giác bất ổn”
Có
một điểm chung trong các ý kiến tham gia tọa đàm là cùng nhìn lại quãng
khó khăn 2008 - 2011, gắn với những bất ổn trong tam giác quan hệ vàng -
tỷ giá - cung tiền. “Vẽ mây nổi trăng”, qua đó để đánh giá những kết
quả của chính sách tiền tệ những năm gần đây.
TS. Nguyễn Xuân
Thành, Giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, cho rằng,
thành công của chính sách tiền tệ những năm gần đây là đã kiềm chế được
lạm phát trong bối cảnh nới lỏng, qua giảm lãi suất và cung tiền tăng
đáng kể trong năm 2012.
Chuyên gia này cũng đánh giá Ngân hàng
Nhà nước đã thành công trong điều hành chính sách tỷ giá, mặc dù chính
sách tiền tệ mở rộng với yếu tố cung tiền nhiều hơn khi tăng mạnh dự trữ
ngoại hối. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý phía sau đó có sự hỗ trợ của cán
cân tổng thể thặng dư, giải ngân FDI và kiều hối tăng lên; sự sụt giảm
của tài sản, đặc biệt là vàng đã không gây bất ổn đến tỷ giá.
“Mùa hè vừa rồi (cuối tháng 6 đầu tháng 7 - PV) có
áp lực xuất hiện, nhưng với khả năng can thiệp của Ngân hàng Nhà nước
thì đã bình ổn. Đó là thời điểm quan trọng để củng cố niềm tin vào cam
kết giữ ổn định”, TS. Thành nói.
Có những đánh giá tương đồng,
TS. Tô Kim Ngọc, Phó giám đốc Học viện Ngân hàng, nhấn mạnh đến việc
Ngân hàng Nhà nước đã chủ động xử lý được mối quan hệ tam giác giữa vàng
- tỷ giá - cung tiền; trong đó nhà điều hành thể hiện quyết tâm tách sự
chi phối của vàng đối với chính sách tiền tệ.
Cụ thể, Ngân hàng
Nhà nước đã bóc được vàng ra khỏi hệ thống các tổ chức tín dụng, thay vì
sự chi phối lớn của nó trong bảng cân đối tài sản trước đây. Điều này
được bà Ngọc nhấn mạnh ở ý nghĩa, ngoài bóc rủi ro vốn vàng, yếu tố gây
nhiễu và nhiều ảnh hưởng từ vàng đối với cung tiền đã được hạn chế. Cung
tiền chủ động hơn, việc điều hành chính sách tiền tệ sát thực và hiệu
quả hơn, nhất là gắn với mục tiêu kiềm chế lạm phát.
Ở mối quan
hệ khác, Phó giám đốc Học viện Ngân hàng, xem là thành công của Ngân
hàng Nhà nước khi phối hợp được việc điều hành lãi suất với tỷ giá.
TS.
Ngọc cho biết, trước đây mối quan hệ này “không dám nói” vì tỷ giá chi
phối lãi suất khá nhiều, do tình trạng đô la hóa cao, do cấu trúc tiền
gửi ngoại tệ tại các ngân hàng lỏng. Những biến động của tỷ giá, từng
thường trực và căng thẳng những năm 2008 - 2011, đều dễ tạo sự dịch
chuyển, gây mất cân đối cấu trúc tiền gửi và tác động đến lãi suất. Sâu
xa hơn, chuyên gia này cho rằng nó có thể “tiêu hủy mục tiêu và sự chủ
động trong điều hành chính sách”.
“Rất may, đã nắm được cương”
Là
Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nhưng góc nhìn của TS.
Trương Văn Phước lại nghiêng nhiều hơn từ phía ngân hàng thương mại
(môi trường ông tham gia những năm qua).
“Có thể xem thị trường
tiền tệ của chúng ta là một con ngựa bất kham, khi xẩy ra cuộc khủng
hoảng năm 2008. Giai đoạn 2008 - 2011 phải nói là rất thực sự khó khăn.
Cả hệ thống chính trị phải vào cuộc để kéo nền kinh tế ra khỏi tình
trạng lạm phát, mà người ta vẫn nói “Xin lỗi, chịu không nổi!”. Lạm phát
cao tới mức 17 - 18% dẫn tới lãi suất trên 20% thì chịu sao nổi”, ông
Phước đặt vấn đề.
“Nay, nói gì thì nói, nền kinh tế cũng đã trở
lại một mặt bằng tương đối, dĩ nhiên vẫn còn nhiều chuyện. Nhưng đến hôm
nay lạm phát được như thế, tỷ giá được như thế, lãi suất được như thế,
mình có thể nói như thế cũng là được rồi”, ông Phước nói thêm.
Trả
lời câu hỏi Ngân hàng Nhà nước đã làm được gì? Ông Phước ví von: Ngân
hàng Nhà nước đã kìm được dây cương của con ngựa tiền tệ bất kham của
những năm khủng hoảng.
Từ góc độ của ngân hàng thương mại, ông
cho biết đã từng rất lo rằng và dự tính phải mất thời gian dài mới tìm
lại được dây cương của con ngựa bất kham đó.
“Rất may, chúng ta
đã tìm lại được, tương đối nhanh và tương đối sớm. Đến giờ phút này,
Ngân hàng Nhà nước đã nắm và kìm được cương con ngựa tiền tệ, kéo nó trở
về quy đạo an toàn, nhưng cũng phải nhìn ngang ngó dọc không phải chủ
quan”, TS. Trương Văn Phước nói.
Là chuyên gia về tỷ giá, ông
Phước nhìn nhận ổn định tỷ giá thời gian qua là một thành công, nhưng
không phải tự nhiên mà có. Bởi lẽ, “có cái hay không bằng hên, nhưng có
những cái tự thân Ngân hàng Nhà nước đã nhìn thấy vấn đề và đã gỡ được
những kíp nổ của tỷ giá sớm”.
Kíp nổ thứ nhất được gỡ, theo
chuyên gia này là từ vàng. Thứ hai, các chính sách chống đô la hóa đã
phát huy tác dụng tốt, nếu không tốt thì tỷ giá không được như thời gian
qua.
“Bằng những biện pháp hành chính, đương nhiên nhiều khi nó
cũng hơi khắc nghiệt, nhưng nó làm cho tiền “đô” bớt hấp dẫn so với tiền
đồng. Do tăng trưởng tín dụng thấp, trong đó có tăng trưởng tín dụng
ngoại tệ thấp làm cho cầu về ngoại tệ thấp xuống”, ông Phước lý giải
thêm.
“Tuy nhiên, những rủi ro của thị trường ngoại hối và tỷ giá
vẫn còn đó. Chúng ta không được ngủ quên trên chiến thắng của tỷ giá.
Trên đồ thị tỷ giá cuối tháng 6 đầu tháng 7 nó nhảy cóc một cái, đó là
một lời cảnh báo.
Tôi đi Yên Tử, thấy có hai cách để leo lên chùa
Đồng. Một cách là đi từng bước. Một cách thì thấy anh kia đứng nghỉ,
rồi nhờ mấy anh gánh một cái đi lên đó. Cái này cho ta hình ảnh của bước
đi tỷ giá”, chuyên gia này ngụ ý so sánh về việc điều chỉnh tỷ giá theo
cách trườn bò với cách nghỉ lâu lâu rồi giật một bước mạnh…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét