Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2013

80 chi nhánh ngân hàng tại TP HCM thua lỗ

Trong năm 2013, có 80 chi nhánh trên tổng số 378 chi nhánh của các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn TP HCM vẫn thua lỗ.


Đó là thông tin được ông Tô Duy Lâm, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước TP HCM cho biết tại Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng trên địa bàn TP HCM năm 2013.

Cũng theo số liệu của ông Lâm, ước đến cuối năm 2013, tổng vốn huy động của các ngân hàng trên địa bàn thành phố tăng 11% so với năm trước; tăng trưởng tín dụng đạt 9%; tỷ lệ nợ xấu 5,49%.

ngân hàng
Tính chung, lợi nhuận của các ngân hàng vẫn tăng tron năm 2013
Riêng kết quả kinh doanh (chênh lệch thu nhập và chi phí) của các ngân hàng trên địa bàn năm 2013 đạt 5.459 tỷ đồng (con số của năm 2012 là hơn 666 tỷ đồng). Tuy vậy, số liệu thống kê cho thấy, vẫn có 80 chi nhánh trên tổng số 378 chi nhánh của các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn TP HCM vẫn thua lỗ (chiếm tỷ lệ khoảng 21%), nhưng sau khi bù trừ, lợi nhuận của các ngân hàng vẫn tăng.

Năm 2013, các ngân hàng trên địa bàn TP HCM đã xử lý được 20.000 tỷ đồng nợ xấu, trong đó, thu nợ bằng tiền là 5.846 tỷ đồng, bằng dự phòng rủi ro là 4.594 tỷ đồng, bán nợ cho VAMC là 5.174 tỷ đồng.

Tuy nhiên, theo ông Lâm, nợ xấu và ảnh hưởng của nợ xấu vẫn là vấn đề đặc biệt quan tâm của các ngân hàng và cả hệ thống. Nợ xấu tiếp tục phát sinh, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động các ngân hàng. Mặc dù lợi nhuận của các ngân hàng có cải thiện so với năm trước, song nhìn chung, các nhà băng cũng chỉ có thể đạt được 50-70% chỉ tiêu lợi nhuận đưa ra.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho rằng, lợi nhuận của ngân hàng sẽ khó có thể đạt mức cao và chia cổ tức nhiều. Ngân hàng là kênh kinh doanh trung gian, nên không thể lời nhiều, nhất là khi chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay đang dần thu hẹp lại, nên lợi nhuận khó đạt mức cao như trước đây.

Thậm chí, một số ngân hàng trong năm nay sẽ không còn cổ tức cho cổ đông, mà phải dành lợi nhuận để trích dự phòng rủi ro. Điều này cũng được Ngân hàng Nhà nước khuyến khích, vì hoạt động ngân hàng an toàn mới có thể kỳ vọng lợi nhuận.

Theo Đầu tư Chứng khoán

Ngân hàng 2013: Ít xáo trộn, nhiều đổi thay

Tienphong.vn - 1 ngày trước 1633

Trong 5 năm trở lại đây, có thể xem 2013 là năm ít xáo trộn nhất trong hoạt động ngân hàng, xét ở những biểu hiện và phản ứng trên thị trường. Nhưng đây lại là một năm có những sự kiện, thay đổi quan trọng.


Ngân hàng 2013: Ít xáo trộn, nhiều đổi thay

Dưới đây là 10 điểm nổi bật nhất trong hoạt động ngân hàng một năm qua.

Sau thời gian khá dài bàn tính, lần đầu tiên mô hình xử lý nợ VAMC ra đời, bắt đầu mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng từ tháng 10/2013
Sau thời gian khá dài bàn tính, lần đầu tiên mô hình xử lý nợ VAMC ra đời, bắt đầu mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng từ tháng 10/2013.

1. Lạm phát thấp nhất 10 năm

Với mức tăng 6,04%, CPI 2013 thấp nhất trong vòng 10 năm qua. Đây là một thành công trong điều hành chính sách tiền tệ, có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Đầu năm, có quan điểm lo ngại, đặc biệt là các tổ chức quốc tế, về một cú hồi mã thương của lạm phát khi chính sách tiền tệ có dấu hiệu nới lỏng, qua tốc độ giảm lãi suất khá nhanh, cung tiền tăng trưởng khá cao...

Tuy nhiên, sau nhiều năm bùng nổ, tăng trưởng tín dụng đã hãm phanh (năm 2013 dự kiến khoảng 11%), là một yếu tố quan trọng để giới hạn mức độ nới lỏng nói trên, hạn chế tác động bất lợi đối với lạm phát. Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước liên tục sử dụng các công cụ để điều tiết cung tiền hợp lý, đặc biệt là lượng tiền cung ứng mua vào ngoại tệ.

Bên cạnh kiềm chế lạm phát, nhịp độ điều tiết của Ngân hàng Nhà nước đã cân đối được các áp lực đối với lãi suất, tỷ giá và đặc biệt là vấn đề thanh khoản hệ thống.

2. Lãi suất giảm nhanh

Với diễn biến thuận lợi của lạm phát, chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đã bắt nhịp để có những điều chỉnh nhanh hơn dự tính.

Trong năm 2013, Ngân hàng Nhà nước đã giảm 2%/năm các mức lãi suất điều hành; giảm 3%/năm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên; giảm 1%/năm lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi bằng VND, từ cuối tháng 6 cho phép các ngân hàng thương mại tự ấn định lãi suất tiền gửi VND có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.

Mặt bằng lãi suất tiếp tục giảm 2-5%/năm trong 2013 (trở về mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006) nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ. Lãi suất cho vay cũng đã giảm xuống thấp, phổ biến dưới 13%/năm đến cuối 2013.

3. Cam kết ổn định tỷ giá ba lần thử lửa

Lần thứ ba Ngân hàng Nhà nước đưa ra cam kết ổn định tỷ giá USD/VND với mức tăng không quá 2-3%. Chung cuộc là mức tăng chỉ 1,3%, tỷ giá và thị trường ngoại hối tiếp tục có một năm ổn định, đặc biệt là nguồn lực dự trữ ngoại hối tiếp tục được củng cố (ước tính đạt trên 30 tỷ USD).

Song, áp lực đối với cam kết ổn định tỷ giá luôn tiềm ẩn. Trong năm ít nhất có ba đợt biến động: cuối tháng 2 đầu tháng 3, cuối tháng 6 đầu tháng 7 và gần đây là đầu tháng 12 vừa qua.

Điểm chung, ba đợt biến động đều xuất phát từ những thông tin đồn đoán, những dự báo có ảnh hưởng đến tâm lý thị trường. Điểm chung nữa, với lượng tiền cung ứng mua vào ngoại tệ lớn chuyển tiếp từ 2012, trạng thái dư tiền đồng kéo dài trong hệ thống, đầu ra tín dụng khó đẩy mạnh, hiện tượng găm giữ ngoại tệ có biểu hiện ở tiền gửi ngoại tệ tăng khá cao... cũng là những nguyên nhân đáng chú ý.

Cả ba lần, Ngân hàng Nhà nước thể hiện sự linh hoạt, cũng như có hành động can thiệp kịp thời. Thông tin định hướng thị trường đã nhanh hơn, nguồn lực dữ trữ để bán ra bình ổn sẵn sàng hơn, nhưng hơn hết là đã có sự phối hợp tốt hơn giữa chính sách lãi suất với tỷ giá, với điều tiết vốn trong hệ thống; thị trường đã có một cam kết để định hình kỳ vọng và ứng xử; những tác động bất lợi từ thị trường vàng đối với tỷ giá đã được hạn chế.

Và một trong ba lần đó, nhà điều hành đã phải trực tiếp tăng 1% tỷ giá bình quân liên ngân hàng, đồng thời lùi trần lãi suất tiền gửi tối đa USD.

4. Kìm chân nợ xấu và VAMC ra đời

Nợ xấu tiếp tục tăng lên, nhưng tốc độ đã được hãm lại. Đến cuối tháng 11/2013, tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo của các tổ chức tín dụng là 4,55%, chỉ tăng 19% so với mức tăng tới 67% cùng kỳ 2012.

Bên cạnh việc tăng trích lập dự phòng, thu hồi và tự xử lý, tốc độ trên được kìm chân bởi các chính sách có ảnh hưởng lớn: Quyết định 780 cho cơ cấu lại nợ mà không phải chuyển nhóm, hoãn thực hiện Thông tư 02 về phân loại và trích lập dự phòng. Đặc biệt, Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) ra đời bắt đầu có tác động đáng kể đến việc xử lý nợ xấu.

Sau thời gian khá dài bàn tính, lần đầu tiên mô hình xử lý nợ VAMC ra đời, bắt đầu mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng từ tháng 10/2013. Tác động của giải pháp này thể hiện rõ, khi tỷ lệ nợ xấu của hệ thống từ mức cao nhất trong năm 4,73% vào tháng 10 đã giảm xuống còn 4,55% cuối tháng 11.

5. Chính sách tiền tệ một năm nhượng bộ

Như trên, Quyết định 780 và hoãn Thông tư 02 là hai điển hình cho tình thế phải nhượng bộ của chính sách tiền tệ trong năm 2013. Cả hai cơ chế này đều hướng tới tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp vay vốn, giảm tải áp lực nợ xấu cho các tổ chức tín dụng, hay là một kế hoãn binh để từng bước xử lý những khó khăn của nền kinh tế.

Trong đó, riêng việc thực hiện Thông tư 02 là vấn đề nổi bật và xuyên suốt trong năm 2013, với loạt kiến nghị tiếp tục hoãn áp dụng từ lãnh đạo nhiều ngân hàng thương mại.

Với hai điển hình trên, các chỉ báo về tình hình sức khỏe của hệ thống các tổ chức tín dụng đã không được phản ánh một cách sát thực và đầy đủ. Đây cũng là áp lực dự báo sẽ nổi bật trong năm 2014, khi nhiều khả năng phải ngừng Quyết định 780 và chính thức áp dụng Thông tư 02.

Quyết định 780 và Thông tư 02 một lần nữa cũng là điển hình cho thấy hiệu quả của điều hành chính sách tiền tệ phụ thuộc nhiều vào các chính sách điều tiết tài chính đối với hệ thống các tổ chức tín dụng. Bởi nếu không nhượng bộ như trên, năm 2013 chắc chắn hệ thống đã không có được sự ổn định, hay các vấn đề như thanh khoản, lãi suất, tỷ giá, thậm chí là khả năng đổ vỡ đã trở nên nóng bỏng.

6. Bóc tách xong vốn vàng

Từng có chủ trương từ 2011 và trì hoãn trong 2012, phải đến 30/6/2013 (đúng hơn là một tuần sau mốc này), việc tất toán trạng thái vàng tại các tổ chức tín dụng mới chính thức hoàn thành. Cuối cùng, vốn vàng đã được bóc tách ra khỏi hệ thống; dư nợ cho vay bằng vàng chỉ còn lại phần nhỏ, ước khoảng 5 tấn đến cuối 2013.

Dù muộn và từng phải nhượng bộ, nhưng đây là một thành công nổi bật của Ngân hàng Nhà nước, khi bóc tách được vốn vàng, các yếu tố đòn bẩy tài chính, sự bơm thổi tín dụng và những rủi ro từng khuấy đảo trong hệ thống, thậm chí từng dẫn đến nguy cơ đổ vỡ tại một số tổ chức tín dụng.

Quá trình bóc tách diễn ra căng thẳng từ cuối 2012 đến suốt nửa đầu 2013, là áp lực lớn tại 18 tổ chức tín dụng liên quan, gắn với sự ồn ào của hoạt động đấu thầu vàng miếng và chênh lệch giá trong nước với thế giới, nhưng đã kết thúc trọn vẹn mà không gây tổn thương đến lãi suất và thanh khoản hệ thống.

7. Khác biệt tái cơ cấu

2013 là năm thứ hai hệ thống ngân hàng thực hiện tái cơ cấu. Về cơ bản, tất cả 9 ngân hàng yếu kém xác định trong năm 2012 đã được xử lý, hoặc có phương án xử lý. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục xác định thêm 8 tổ chức tín dụng yếu kém (gồm 2 ngân hàng thương mại và 6 tổ chức tín dụng phi ngân hàng) để triển khai "đợt" nối tiếp.

Cùng với việc hợp nhất giữa PVFC với Western Bank thành PVcomBank, điểm khác biệt trong năm 2013 là sự kiện sáp nhập DaiABank vào HDBank - hai ngân hàng được đánh giá an toàn, lành mạnh và không nằm trong diện phải tái cơ cấu bắt buộc. Sự kiện này có thể mở đầu cho một xu hướng sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng nhỏ và tầm trung thành những định chế lớn hơn, hay một hướng vận động mới của hệ thống những năm tới.

Nếu năm 2012 ồn ào, căng thẳng và cả lo ngại, thì quá trình tái cơ cấu hệ thống đã được "mềm hóa" trong 2013, không gây xáo trộn trên thị trường mà từ đó có thể gây tổn thương đối với các tổ chức tín dụng liên quan. Và sau hai năm triển khai, trật tự và kỷ cương hệ thống đã được củng cố thêm một bước.

8. Thất bại của gói 30.000 tỷ

Bốn tháng kể từ khi có chủ trương, đến tháng 5/2013 gói 30.000 tỷ đồng cho vay hỗ trợ nhà ở mới ra đời. Độ trễ từ chủ trương đến triển khai cũng đã cho thấy sự phức tạp, nhiều vướng mắc của một chính sách nổi bật trong năm qua.

Bên cạnh giá trị xã hội, gói 30.000 tỷ đồng từng được kỳ vọng sẽ giải ngân được 15.000 - 17.000 tỷ đồng ngay trong năm 2013, để nhanh chóng tạo hiệu ứng lan tỏa trên thị trường bất động sản, góp phần gỡ một nút thắt khó khăn mà ngạch ngân hàng có mối liên hệ mật thiết. Nhưng với tiến độ giải ngân sau 6 tháng chưa đầy 2%, có thể khẳng định gói 30.000 tỷ đồng đã thất bại trong năm 2013.

Dù Ngân hàng Nhà nước, sự tham gia của nhóm các ngân hàng quốc doanh chỉ là một cấu phần, cũng như có nhiều nguyên nhân khác nhau gắn với những đầu mối khác nữa, sự thất bại trên cho thấy: không phải cứ có chủ trương và có vốn, muốn bơm ra là bơm được.

9. Xốc lại sức khỏe hệ thống

Thêm một năm khó khăn khi ước tính có khoảng 17% tổ chức tín dụng thua lỗ. Lợi nhuận của toàn hệ thống lũy kế 11 tháng 2013 đạt 29.500 tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm ngoái, nhưng so với 2010 và 2011 thì chỉ bằng 53-64%.

Hệ thống đã không tạo được mức tăng trưởng hai con số về tổng tài sản, về vốn để cho thấy một sự lớn mạnh như trước đây. Tưởng như trái ngược, nhưng chính trong bối cảnh đó tình hình sức khỏe nói chung đã được củng cố lại.

Thay cho hoạt động "bật tường" vốn lẫn nhau và những vòng quay tạo vốn ảo kích thích tăng trưởng nóng phổ biến trước đây, từ cuối 2012 và suốt 2013 tổng tài sản của các tổ chức tín dụng đã tăng trưởng thực chất hơn, thua lỗ có xu hướng được ghi nhận sát hơn.

Năm 2013 chứng kiến một hiện tượng kéo dài: tổng quy mô vốn tự có của khối ngân hàng cổ phần giảm mạnh, xuống thấp hơn tổng quy mô vốn điều lệ. Một khía cạnh sức khỏe hệ thống "chính thức" thể hiện, nhưng quan trọng hơn là nỗ lực khắc phục để có xu hướng cải thiện khá rõ nét trong những tháng cuối năm.

Sau nhiều năm, 2013 cũng là năm đầu tiên hệ thống có được một tỷ lệ cho vay so với huy động (LDR) ở mức thấp, giảm được về gần 85%, thay cho trên 100% những năm trước gắn với tình trạng căng thẳng thanh khoản thường trực. Hệ số an toàn vốn toàn hệ thống được duy trì ở mức cao (từ 13 - 14% trong năm); tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt (dưới 18%)...

Về tổng thể, hệ thống ngân hàng đang sở hữu các chỉ số cơ bản khá tốt. Tuy nhiên, chúng chưa thực sự phản ánh được bản chất trong tình huống không có sự can thiệp của Quyết định 780 và phải thực hiện Thông tư 02 nói trên.

10. Góc nhìn "tín nhiệm"

Ngày 11/6/2013, lần đầu tiên Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm. Với 209 phiếu "tín nhiệm thấp", 194 phiếu "tín nhiệm" và 88 phiếu "tín nhiệm cao", Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình là người có số phiếu "tín nhiệm thấp" cao nhất trong số 47 chức danh được lấy phiếu.

Kết quả trên là một góc nhìn không chỉ riêng về Thống đốc Nguyễn Văn Bình, mà còn gắn với việc điều hành chính sách tiền tệ, với tình hình hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Diễn ra vào giữa năm, góc nhìn đó không phản ánh cho cả năm 2013, nhưng thể hiện sự kỳ vọng chính sách tiền tệ sẽ được điều hành tốt hơn nữa, sức khỏe và hoạt động của hệ thống cải thiện hơn nữa.

Khép lại năm 2013, điểm lại những kết quả kể trên, Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng hẳn cũng đã đáp ứng được phần nào kỳ vọng đó.

Theo Minh Đức

VnEconomy

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Tiến trình xử lý nợ xấu

Việc đầu tiên là các TCTD tự xử, nghĩa là với các khách hàng ruột, phải đáo nợ sớm, hạn vay khoản vay sau phải dài ra, tới được trung, dài hạn thì tốt. Việc này đã được làm cơ bản trong năm 2012.

Nhưng không phải là khách nợ nào cũng được hưởng đặc ân này. Các khách nợ tuy mất khả năng trả nợ nhưng vẫn hoạt động lắt lay sẽ được xử lý theo Quyết định số 780/QĐ-NHNN cho phép cơ cấu lại nợ. Con số thống kê cho thấy 300.000 tỷ đồng tiền nợ đã được xử lý bằng biện pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với khách hàng gặp khó khăn tạm thời nhưng có phương án tái cơ cấu, khắc phục khó khăn và có khả năng, triển vọng vượt qua khó khăn, một khối lượng lớn dư nợ tín dụng được giữ nguyên nhóm đã góp phần hỗ trợ giảm bớt khó khăn tài chính cho doanh nghiệp do không phải trả lãi phạt và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp tục có thể vay vốn ngân hàng. Con số này tương đương 10% tổng dư nợ. Một số chuyên gia tài chính nhận định: Nếu không có Quyết định số 780/QĐ-NHNN, trong số 10% này sẽ có ít ra 70% thành nợ xấu nhóm cuối cùng.

Phần nợ xấu còn lại, các TCTD có thể đưa ra khỏi nợ xấu bằng cách trích lập dự phòng rủi ro. Mà với công thức tính: số tiền trích lập bằng dư nợ trừ đi giá trị tài sản đảm bảo nhân với tỷ lệ quy định tại Thông tư 02/NHNN thì cũng không là bao nhiêu. Chính vì vậy, cho đến cuối tháng 9-2013, tổng nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống ngân hàng chiếm 4,62% tổng dư nợ. Tỷ lệ trên giảm nhẹ so với mức 4,64% cuối tháng 8-2013, nhưng tăng 20,20% so với cuối năm 2012. Tốc độ tăng nợ xấu bình quân trong 9 tháng đầu năm 2013 đã giảm so với năm 2012 (2,2%/tháng so với mức 3,91%/tháng).

Đáng chú ý, theo Ngân hàng Nhà nước, nếu không thực hiện Quyết định số 780/QĐ-NHNN cho phép cơ cấu lại nợ và không xử lý bằng dự phòng rủi ro trong năm 2012 và 9 tháng đầu năm 2013, thì nợ xấu toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 9-2013 lên tới 12,7%. Nghĩa là không thu được nợ, nhưng nợ xấu đã bay đi 8%. Nợ chưa thu được, nợ vẫn còn nguyên và các TCTD vẫn đang nợ nguồn huy động số nợ đó. Và nếu các khách nợ không trả được thì… không bàn chuyện hoạt động nữa. Tuy nhiên gần 5% tổng dư nợ là nợ xấu nội bảng thì vẫn là khối ung thư cần phải chữa trị. Và VAMC (Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) ra đời.

Bán nợ xấu như thế cũng chỉ là tạm chưa tính thôi

Theo nguyên tắc, các khoản nợ xấu của các TCTD có nợ xấu quá 3% tổng dư nợ, phải bán nợ cho VAMC. Tuy nhiên, việc bán nợ này thực chất cũng chỉ là gửi nợ vì sau 5 năm, số nợ này lại quay về TCTD. Các TCTD bán nợ xấu cho VAMC với mong muốn VAMC sẽ giúp họ thu hồi được vốn từ các khách hàng không có khả năng hoàn nợ, chứ họ không muốn sau 5 năm các khoản nợ xấu lại trở về với mình. Vấn đề lớn nhất hiện nay không phải là việc VAMC mua nợ xấu của ai, với giá như thế nào, mà điều các tổ chức tín dụng bán nợ quan tâm là sau khi mua nợ của họ, VAMC sẽ xử lý các khoản nợ xấu như thế nào?

Chính cơ chế này đã tạo ra khó khăn lớn nhất trong việc xử lý nợ xấu hiện nay là hậu mua nợ. Và nếu nền kinh tế không khởi sắc, các doanh nghiệp không trả được nợ thì lúc đó, những món nợ này sẽ là thảm họa thật sự.

Lối thoát cho tình trạng này là sau khi mua nợ xấu, VAMC phải bán được nợ xấu. Đương nhiên khó có thể tìm được người mua nợ xấu ở trong nước mà buộc phải tìm nguồn từ nước ngoài. Nói theo lối thông thường thì vấn đề quan trọng là cần có sự xuất hiện của nhà đầu tư nước ngoài. Hàn Quốc, giai đoạn 1999-2003 đã bán tới 8,5% nợ xấu cho nhà đầu tư nước ngoài. Trong 2 năm 2003-2004, Trung Quốc cũng đã bán 10 tỷ USD nợ xấu cho nước ngoài. Thái Lan, Malaysia... trước đây đã phải thay đổi luật, cho phép người nước ngoài được sở hữu bất động sản để đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu. Chính NHNN mới đây cho biết cần phải đẩy nhanh việc hình thành thị trường mua bán nợ, tạo điều kiện bán nợ cho nhà đầu tư. Để xử lý thành công nợ xấu, VAMC phải bán khoảng 60-70% cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Đây là vấn đề cực khó của Việt Nam lúc này khi chính sách chưa có. Đúng hơn là chúng ta chưa có một thị trường mua bán nợ xấu thật, một cái chợ thật để khách hàng đến mua. Ở nước ta hiện nay, thị trường mua bán nợ được đánh giá còn khá sơ khai, cả về các điều kiện ra đời, phát triển cũng như thực tiễn hoạt động. Theo giới chuyên gia, muốn hình thành được thị trường mua bán nợ cần phải có hành lang pháp lý ổn định. Thị trường này cũng có người bán (DN có nhu cầu bán nợ), người mua (DN có nhu cầu mua nợ), hoạt động, phát triển dưới sự chi phối của các quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, chi phí, lợi nhuận... và một tòa án chuyên nghiệp để xử lý nợ xấu. Những điều ấy còn chưa có ở nước ta. Mặc dù các cơ quan của Nhà nước rất muốn nhanh chóng hoàn tất các thủ tục pháp lý cần thiết để trên cơ sở đó tạo ra một thị trường mua bán nợ tập trung cho tất cả các nhà đầu tư trong nước và quốc tế, nhưng với tiến độ chậm chạp như nước ta chưa biết năm nào có thể có được các điều kiện pháp lý cũng như hạ tầng cho cái chợ mua bán nợ này.

Chính vì vậy, trên diễn đàn Quốc hội, đại biểu Hà Sỹ Đồng, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị đã đề nghị: “Không nên tiếp tục kiểu cơ cấu lại nợ khiên cưỡng hay xử lý nợ xấu qua VAMC như hiện nay, bởi cách làm này tạo ra số liệu ảo, thực trạng ảo, cũng như về cơ bản không làm thay đổi bản chất vấn đề nợ xấu”. Cũng trên diễn đàn này, Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch cho rằng: “Nợ xấu vẫn là điểm nghẽn của nền kinh tế hiện nay. Vừa qua, VAMC đã khởi động mua nợ, nhưng nếu không có dòng tiền từ bên ngoài bơm vào, thì xử lý nợ vẫn là chuyển nợ từ ngân hàng sang VAMC, tức là từ “túi trái sang túi phải” không có gì hơn”.

Rất nhiều chuyên gia kinh tế đánh giá rằng Việt Nam đang có nhiều cơ hội bán nợ cho các tập đoàn nước ngoài. Nếu bỏ lỡ cơ hội này, nợ xấu sẽ khó được xử lý. Vấn đề là hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước có nhanh chóng xây dựng được chính sách mới đáp ứng cơ hội không. Nếu kinh tế phục hồi chậm, thị trường bất động sản cũng không có chuyển biến rõ rệt và xử lý nợ xấu gặp nhiều rủi ro, thì nhà đầu tư nước ngoài sẽ bỏ đi. Đây sẽ là thách thức lớn không chỉ của hệ thống ngân hàng mà của cả nền kinh tế.
 
 Khó nói lắm. Nếu theo quan niệm thông thường, nợ xấu là nợ có khả năng mất vốn, cụ thể hơn là đến hạn phải trả nợ, con nợ rơi vào tình trạng không trả nợ được, thì số nợ xấu có thể lên đến cả triệu tỷ. Nhưng đánh giá thế thì nhiều TCTD mất hết cả vốn à? Không được!
 
Theo Phan Đức
An ninh Thủ đô

Trái phiếu

Là phiếu ghi nợ của tổ chức phát hành trái phiếu đó với những người cho vay của mình. Thường có hai loại trái phiếu là Trái phiếu Chính phủ và Trái phiếu Doanh nghiệp.

Không như Cổ phiếu, người nắm giữ Trái phiếu không phải chịu rủi ro cùng với kết quả hoạt động của tổ chức phát hành.

Có các loại trái phiếu sau:
Người ta có thể phân loại trái phiếu theo thời gian đáo hạn :
- Trái phiếu ngắn hạn (Shorts) có thời hạn từ 1 đến 5 năm;
- Trái phiếu trung hạn (Mediums) có thời hạn từ 5 đến 15 năm;
- Trái phiếu dài hạn (Longs) có thời hạn hơn 15 năm;
- Trái phiếu vô hạn (Perpetuities) không có ghi ngày đáo hạn.
Có thể phân loại trái phiếu theo cơ quan phát hành:
- Trái phiếu chính phủ;
- Trái phiếu đô thị;
- Trái phiếu doanh nghiệp.
Tại Hoa Kỳ, có rât nhiều cơ quan phát hành trái phiếu với tổng huy động rất lớn (trên 7000 tỉ USD/năm), loại trái phiếu có giá nhất là trái phiếu kho bạc có những tên gọi theo thời gian đáo hạn:
- Trái phiếu kho bạc (Treasury bonds) hay là T-bonds có kỳ hạn 5 đến 30 năm;
- Tín phiếu kho bạc (Treasury notes) hay là T-notes có kỳ hạn 13, 26 hay 52 tuần;
- Kỳ phiếu kho bạc (Treasury bills) hay là T-bills thường có kỳ hạn 1 năm.
Các loại trái phiếu doanh nghiệp:
- Trái phiếu quỹ chìm (Sinking fund bonds);
- Trái phiếu bảo đảm (Secured bonds);
- Trái phiếu có thế chấp (Mortgaged bonds);
- Trái phiếu không bảo đảm (Debentures);
- Trái phiếu chuyển đổi (Convertible bonds);
- Trái phiếu thu hồi được (Callable bonds - Redeemable bonds).
Các loại trái phiếu đô thị:
- Trái phiếu theo nghĩa vụ tổng quát (General obligation bond);
- Trái phiếu hoàn trả (Put bond);
- Trái phiếu lãi suất thay đổi (Variable rates bond);
- Trái phiếu Zero Coupon (Trái phiếu không có tem tính lãi nhưng giá được chiết khấu rất nhiều;
- Trái phiếu xô (Junk bonds).

Cổ phiếu

Cổ phiếu là phiếu chứng nhận khoản đầu tư của nhà đầu tư vào tổ chức phát hành cổ phiếu đó (thường là các doanh nghiệp). Khi mua cổ phiếu, nhà đầu tư đã chính thức trở thành một trong các người chủ của tổ chức phát hành đó. Cùng được hưởng lợi tức hoặc cùng chịu rủi ro với kết quả kinh doanh của tổ chức đó. Nói tóm lại, CP là phiếu xác nhận quyền cổ đông, quyền làm chủ một phần vốn trong một doanh nghiệp.

Hiện nay, có các loại cổ phiếu sau:
- Cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu vốn), loại cổ phiếu này được chia cổ tức đều đặn hàng năm và được tăng giá trị cổ phiếu khi công ty kinh doanh có lãi và phát tirển tốt. Cổ phiếu thường có thể được chia tách.
- Loại cổ phiếu thứ hai là cổ phiếu ưu đãi, gồm có các phân loại sau:
+ Cổ phiếu ưu đãi;
+ Cổ phiếu ưu đãi dự phần;
+ Cổ phiếu ưu đãi có lãi suất điều chỉnh;
+ Cổ phiếu ưu đãi theo thị trường tiền tệ (MMPS).
Các Cổ phiếu ưu đãi có thể chia ra các phân loại:
+ Cổ phiếu ưu đãi thu hồi;
+ Cổ phiếu ưu đãi bảo đảm.


Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

SO SÁNH SỨC KHỎE CỦA CÁC NGÂN HÀNG

Nhiều nhà băng vẫn "mạnh tay" tuyển dụng

Khác với nhiều thông tin cho rằng nhân sự ngân hàng mất việc nhiều, các con số tổng hợp từ báo cáo tài chính hợp nhất của 8 ngân hàng cho một kết quả khác, cho dù nó cũng chưa phản ánh hết bức tranh nhân sự chung của ngành ngân hàng.
lương


Tính đến 30/9/2013, số nhân viên tại Vietinbank giảm 87 người so với đầu năm, mức giảm nhân sự tại Eximbank là 102 người và đặc biệt, ACB cắt giảm tới 927 nhân viên so với hồi đầu năm.

Tuy vậy, 5 ngân hàng được đưa vào so sánh như Vietcombank, Sacombank, MB, VPBank, DongABank lại tuyển dụng thêm khá nhiều nhân sự, trong đó, một hiện tượng không thể không nhắc đến là VPBank.

Số nhân viên tại VPBank đến 30/9/2013 đã tăng thêm 2.130 người so với hồi cuối năm 2012, theo số liệu thu được từ báo cáo tài chính hợp nhất của ngân hàng này.

VPBank đang đi ngược với xu hướng cắt giảm nhân sự ở nhiều ngân hàng, nhưng mặt khác cũng cho thấy nhà băng này đang quyết tâm mở rộng tầm ảnh hưởng của mình với thị trường tài chính, mà có thể là một kế hoạch tham vọng của Tổng giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh, người từng đưa Techcombank thành công một thời.

Tính chung lại, 8 ngân hàng trên vẫn tuyển thêm 1.931 nhân viên so với hồi cuối năm 2012. Con số này phần nào cho thấy nhân sự ngân hàng vẫn "hót", và đặt biệt chưa có dấu hiệu "suy thoái" cầu nhân sự ngân hàng, bất chấp bức tranh lợi nhuận ngành này không mấy sáng sủa như kỳ vọng.

Trong 8 ngân hàng trên, Vietinbank vẫn tiếp tục dẫn đầu về số lượng nhân viên khi có tới 19.753 nhân sự tính đến 30/9/2013. Số nhân viên này đang vận hàng khối tài sản lên tới 528.608 tỷ đồng.

Trong khi đó, Sacombank lại nhỉnh hơn hẳn so với khối ngân hàng cổ phần nhà nước không hoặc ít nắm giữ vốn khi có tới 10.520 nhân viên.

Chênh nhau "đẳng cấp" kiếm tiền

Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất của 13 ngân hàng thương mại, gồm Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Sacombank, ACB, Eximbank, MB, DongABank, SaigonBank, Southern Bank, OceanBank, NaviBank, VPBank cho thấy con số lãi trước thuế gần 8.800 tỷ đồng trong quý III/2013 và lãi trên 24.000 tỷ đồng trong 9 tháng năm 2013.

Nhìn chung, tăng trưởng lợi nhuận quý III và 9 tháng năm nay so với cùng kỳ chủ yếu nằm ở các ngân hàng lớn, còn tình trạng suy giảm lợi nhuận lại rơi vào ngân hàng nhỏ.

Xét về hiệu quả, MB đứng đầu trong 8 ngân hàng trên khi mỗi nhân viên ngân hàng này tạo ra gần 409 triệu đồng lợi nhuận trước thuế trong 9 đầu năm nay.

Tương tự, nhân viên của Vietinbank tạo ra 356 triệu đồng lợi nhuận trước thuế trong 9 tháng, Vietcombank (289 triệu đồng), Sacombank (210 triệu đồng).

Ở nhóm có hiệu quả thấp, do lợi nhuận ở mức khiêm tốn trong khi nhân sự đông đảo, nên hiệu quả trung bình mỗi nhân viên VPBank, DongABank chỉ tạo ra hơn 90 triệu đồng lợi nhuận trước thuế trong 9 tháng.

Ngân hàng nào trả lương "khủng" nhất?

Báo cáo tài chính hợp nhất 9 tháng năm 2013 cho thấy, quỹ chi phí cho nhân viên (chủ yếu là lương) của Vietinbank đứng đầu với 3.349 tỷ đồng, kế đến là Vietcombank (2.276 tỷ đồng), Sacombank (1.726 tỷ đồng)... Ở một con số khác, quỹ lương của VPBank và DongABank khá khiêm tốn so với các ngân hàng khác.

Tính trung bình mỗi tháng, Vietinbank, MB chi khoảng 18,8 triệu đồng cho mỗi nhân viên. Mức thu nhập bình quân đầu người ở Vietcombank là 18,3 triệu đồng/người, kế đến là mức thu nhập tại Sacombank (18,2 triệu đồng/người/tháng),...

Mức thu nhập bình quân thấp nhất ghi nhận ở con số 10,75 triệu đồng/tháng tại DongABank.

Mức lương bình quân này đã thấp hơn so với con số trên 20 triệu đồng/tháng cách đây vài năm, tuy nhiên, đây vẫn là con số hấp dẫn và đáng mơ ước nếu so sánh trên bình diện các công việc khác.

Theo Bizlive

DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG

1  NHTMCP An Bình - ABB
2  NHTMCP Á Châu - ACB  
3  NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  AGRB
4  NH Đầu Tư và Phát triển Việt Nam  BIDV  
5  NHTMCP Bảo Việt  BVB  
6  NHTMCP Công Thương Việt Nam  CTG  
7  NHTMCP Đại Á  DAB  
8  NHTMCP Đông Á  EAB  
9  NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank)  EIB  
10  NHTMCP Bản Việt (Viet Capital Commercial Joint Stock Bank - Viet Capital Bank).GDB
11  NHTMCP Dầu Khí Toàn Cầu  GPB  
12  NHTMCP Đại Tín  GTB  
13  NHTMCP Phát triển TP.HCM  HDB 
14  NHTMCP Kiên Long  KLB  
15  NHTMCP Bưu điện Liên Việt  LPB  
16  NHTMCP Quân đội  MBB  
17  NHTMCP Phát triển Mê Kông  MDB  
18  NH Phát triển Nhà ĐBSCL  MHB  
19  NHTMCP Hàng Hải  MSB  
20  NHTMCP Nam Á  NAB  
21  NHTMCP Bắc Á  NAS  9/1/1994  3.000    33.759
22  NHTMCP Nam Việt  NVB  5/18/2006  3.010    21.584
23  NHTMCP Phương Đông  OCB  4/13/1996  3.234    27.424
24  NHTMCP Đại Dương(Ocean Bank)
25  NHTMCP Xăng dầu Petrolimex  PGB  1/12/2007  3.000    19.251
26  NHTMCP Phương Nam  PNB  3/17/1993  4.000    75.270
27  Ngân hàng TMCP Sài Gòn
  2012  10.584    149.206

28  NHTMCP Đông Nam Á  SEAB  3/25/1994  5.335    -Với số vốn điều lệ 5.466 tỷ đồng, SeABank tiếp tục nằm trong nhóm những ngân hàng lớn nhất Việt Nam về vốn điều lệ, tổng tài sản trên 100 nghìn tỷ đồng và mạng lưới hoạt động 155 điểm giao dịch trên toàn quốc. 

Bên cạnh đó, cơ cấu cổ đông của ngân hàng cũng không thay đổi, bao gồm tập đoàn tài chính Société Générale (Pháp) - cổ đông chiến lược nước ngoài sở hữu 20% vốn điều lệ cùng các cổ đông chiến lược trong nước như Công ty Thông tin di động (VMS MobiFone), Tổng công ty Khí Việt Nam (PV Gas) và hàng trăm cổ đông là tổ chức và cá nhân khác.
http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20140114/SeABank-va-PVI-Holdings-hop-tac-toan-dien.aspx
http://dantri.com.vn/kinh-doanh/seabank-lien-tiep-nhan-nhieu-giai-thuong-quoc-te-danh-gia-802217.htm

29  NHTMCP Sài Gòn Công thương  SGB  5/4/1993  3.080    14.853
30  NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội  SHB 8.866     116.538 
31  NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank – STB) 12/5/1991  10.740    152.119
32  NHTMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) 
33  NHTMCP Tiên Phong  TPB  5/5/2008  5.550    15.120
34  NHTMCP Việt Á  VAB  5/9/2003  3.098    24.699
35  NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam  VCB  1988  23.174    414.475
36  NHTMCP Quốc Tế  VIB  1/25/1996  4.250    65.023
37  NHTMCP Việt Nam Thịnh vượng  VPB  8/12/1993  5.770    102.576
38  NHTMCP Việt Nam Thương tín  VTB  12/15/2006  3.000    16.845

39  NHTMCP Phương Tây  WEB  6/5/2007  3.000   đã hợp nhất với Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại chúng Việt Nam (PVcomBank) vào ngày 30/10/2013. Ngân hàng hợp nhất PVcomBank có vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, quy mô tài sản trên 100.000 tỷ với 102 điểm giao dịch trên cả nước. Đại diện pháp nhân là ông Nguyễn Đình Lâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị.Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sẽ chiếm 52% cổ phần của PvcomBank và 6,7% cổ phần ngân hàng này thuộc về cổ đông chiến lược Morgan Stanley.
http://dantri.com.vn/kinh-doanh/nhung-thuong-vu-dinh-dam-nhat-gioi-ngan-hang-viet-nam-qua-834103.htm

40  Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)

PHỤ LỤC 2. NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI VÀ NGÂN HÀNG LIÊN DOANH
STT  Ngân hàng  Mã  Tên tiếng Anh  Vốn điều lệ (tỷ VND)  Loại hình sở hữu
1  Ngân hàng HSBC  HSBC  HSBC  3.000  100% vốn NN
2  Ngân hàng Standard Chartered  SC  Standard Chartered Bank  3.000  100% vốn NN
3  Ngân hàng Shinhan  Shinhan Bank  Shinhan Bank  3.000  100% vốn NN
4  Ngân hàng ANZ  ANZ  ANZ  3.000  100% vốn NN
5  Ngân hàng Hong Leong  Hong Leong  Hong Leong  3.000  100% vốn NN
6  NHLD VID Public Bank  VID  VID Public Bank  64,0  LD
7  NHLD Indovina  Indovina  Indovina Bank Limited  165,0  LD
8  NH Shinhanvina  Shinhanvina  Shinhanvina Bank  75,0  100% vốn NN
9  NHLD Việt - Thái  Vinasiam  Vinasiam Bank  62,0  LD
10  NHLD Việt - Nga  VRB  Vietnam-Russia Joint Venture Bank  168,5  LD
PHỤ LỤC 3. CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI
STT  Tên chi nhánh  Ngày cấp giấy phép  Vốn ĐL/được cấp (triệu USD)
1  NATIXIS (Pháp)  6/12/1992  15
2  ANZ (Úc)- CN Hà Nội  6/15/1992  20
Hệ thống tài chính Việt Nam    NV05-53-83
Trang 17/25
3  BIDC TP.HCM  12/18/2009  15
4  BIDC Hà Nội  4/22/2011  15
5  Crédit Agricole- CN HCM  4/1/1992  45
6  Crédit Agricole- CN Hà Nội  5/27/1992
7  STANDARD CHARTERED BANK (Anh)- CN Hà Nội  6/1/1994  20
8  STANDARD CHARTERED BANK (Anh)- CN HCM  12/28/2005  15
9  CITI BANK- CN Hà Nội  12/19/1994  20
10  CITI BANK- CN. TP Hồ Chí Minh  12/22/1997
11  Taipei Fubon Bình Thạnh  1/8/2008  19
12  Taipei Fubon Hà Nội  4/9/1993  30
13  Taipei Fubon Chi nhánh phụ TP.Hồ Chí Minh  12/24/1994
14  MAY BANK- CN Hà Nội  8/15/1995  15
15  MAY BANK- CN TP. HCM  3/29/2005  15
16  BANGKOK BANK – CN TP. Hồ Chí Minh  4/15/1992  65
17  Ngân hàng Bangkok – Chi nhánh Hà Nội  3/6/2009  15
18  MIZUHO CORPERATE BANK (Nhật)  7/3/1996  133,5
19  MIZUHO Co. Bank – CN TP.HCM  30/3/2006  133,5
20  BNP (Pháp)  6/5/1992  75
21  HSBC chi nhánh HCM  3/22/1995  15
22  UNITED OVERSEAS BANK (UOB) (Singapore)  3/27/1995  15
23  DEUSTCHE BANK  6/28/1995  50,08
24  BANK OF CHINA, HoChiMinh City Branch  7/24/1995  15
25  BANK OF TOKYO MITSUBISHI UFJ- CN TP.HCM (Nhật)  2/17/1996  145
26  BANK OF TOKYO MITSUBISHI UFJ- Chi nhánh Hà Nội  9/5/1998  15
27  Mega international Commercial Bank Co, HoChiMinh City Branch.  5/3/1996  90
28  OCBC (Singapore)  31.10.96  25
29  WOORI  BANK Chi nhánh Hà Nội  7/10/1997  67
30  WOORI BANK- Chi nhánh Hồ Chí Minh  12/20/2005  67
Hệ thống tài chính Việt Nam    NV05-53-83
Trang 18/25
31  JP MORGAN CHASE  BANK (Mỹ)  7/27/1999  77
32  KOREA EXCHANGE BANK (Hàn Quốc)  8/29/1998  67
33  NH  LÀO – VIỆT  3/23/2000  15
34  NH  LÀO – VIỆT HCM  4/14/2003    15
35  CHINATRUST COM.BANK, HOCHIMINH CITY BRANCH  2/6/2002  50
36  FIRST COMMERCIAL BANK, HOCHIMINH CITY BRANCH  12/9/2002  40
37  FIRST COMMERCIAL BANK Hà Nội  210/GP-NHNN  16
38  FENB (Mỹ)  5/20/2004  15
39  CATHAY UNITED BANK – ChuLai Branch, VietNam(Đài Loan)  6/29/2005  45
40  SUMITOMO (NHẬT)- CN TP. Hồ Chí Minh  12/20/2005  165
41  Sumitomo Chi nhánh Hà Nội  11/4/2008  335
42  HUA NAN COMMERCIAL BANK, LTD HOCHIMINH CITY BRANCH  7/23/2006  65
43  COMMONWEALTH BANK  1/8/2008  28
44  INDUSTRIAL BANK OF KOREA  1/8/2008  115
45  Industrial and Commercial Bank of China Ltd- CN Hà Nội  12/10/2009  50
46  China Construction Bank Corporation- CN TP. Hồ Chí Minh  12/10/2009  30
47  DBS Bank Ltd- CN TP. HCM  1/12/2010  20
48  The Shanghai Commercial & Savings Bank, Ltd - Chi nhánh Đồng Nai  9/23/2010  16
49  Bank of Communication  22/10/2010236/GP-NHNN  50
50  Kookmin  1/19/2011  36
Hệ thống tài chính Việt Nam    NV05-53-83

 Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) tiến hành hợp nhất với Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa và Ngân hàng TMCP Đệ Nhất từ ngày 1/1/2012. Ngày 28/8/2012, thương hiệu Habubank chính thức biến mất khỏi thị trường thông qua sáp nhập với SHB.

Ngày 8/9/2013, Westernbank sáp nhập với Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí (PVFC) thành PVcombank. Ngày 18/11/2013, NHNN có quyết định chấp thuận việc sáp nhập DaiABank vào HDBank. Ngoài ra, nhiều ngân hàng lên kế hoạch tự tái cơ cấu như Navibank, Trustbank, TPBank và GPBank.