Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Tiến trình xử lý nợ xấu

Việc đầu tiên là các TCTD tự xử, nghĩa là với các khách hàng ruột, phải đáo nợ sớm, hạn vay khoản vay sau phải dài ra, tới được trung, dài hạn thì tốt. Việc này đã được làm cơ bản trong năm 2012.

Nhưng không phải là khách nợ nào cũng được hưởng đặc ân này. Các khách nợ tuy mất khả năng trả nợ nhưng vẫn hoạt động lắt lay sẽ được xử lý theo Quyết định số 780/QĐ-NHNN cho phép cơ cấu lại nợ. Con số thống kê cho thấy 300.000 tỷ đồng tiền nợ đã được xử lý bằng biện pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với khách hàng gặp khó khăn tạm thời nhưng có phương án tái cơ cấu, khắc phục khó khăn và có khả năng, triển vọng vượt qua khó khăn, một khối lượng lớn dư nợ tín dụng được giữ nguyên nhóm đã góp phần hỗ trợ giảm bớt khó khăn tài chính cho doanh nghiệp do không phải trả lãi phạt và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp tục có thể vay vốn ngân hàng. Con số này tương đương 10% tổng dư nợ. Một số chuyên gia tài chính nhận định: Nếu không có Quyết định số 780/QĐ-NHNN, trong số 10% này sẽ có ít ra 70% thành nợ xấu nhóm cuối cùng.

Phần nợ xấu còn lại, các TCTD có thể đưa ra khỏi nợ xấu bằng cách trích lập dự phòng rủi ro. Mà với công thức tính: số tiền trích lập bằng dư nợ trừ đi giá trị tài sản đảm bảo nhân với tỷ lệ quy định tại Thông tư 02/NHNN thì cũng không là bao nhiêu. Chính vì vậy, cho đến cuối tháng 9-2013, tổng nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống ngân hàng chiếm 4,62% tổng dư nợ. Tỷ lệ trên giảm nhẹ so với mức 4,64% cuối tháng 8-2013, nhưng tăng 20,20% so với cuối năm 2012. Tốc độ tăng nợ xấu bình quân trong 9 tháng đầu năm 2013 đã giảm so với năm 2012 (2,2%/tháng so với mức 3,91%/tháng).

Đáng chú ý, theo Ngân hàng Nhà nước, nếu không thực hiện Quyết định số 780/QĐ-NHNN cho phép cơ cấu lại nợ và không xử lý bằng dự phòng rủi ro trong năm 2012 và 9 tháng đầu năm 2013, thì nợ xấu toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 9-2013 lên tới 12,7%. Nghĩa là không thu được nợ, nhưng nợ xấu đã bay đi 8%. Nợ chưa thu được, nợ vẫn còn nguyên và các TCTD vẫn đang nợ nguồn huy động số nợ đó. Và nếu các khách nợ không trả được thì… không bàn chuyện hoạt động nữa. Tuy nhiên gần 5% tổng dư nợ là nợ xấu nội bảng thì vẫn là khối ung thư cần phải chữa trị. Và VAMC (Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) ra đời.

Bán nợ xấu như thế cũng chỉ là tạm chưa tính thôi

Theo nguyên tắc, các khoản nợ xấu của các TCTD có nợ xấu quá 3% tổng dư nợ, phải bán nợ cho VAMC. Tuy nhiên, việc bán nợ này thực chất cũng chỉ là gửi nợ vì sau 5 năm, số nợ này lại quay về TCTD. Các TCTD bán nợ xấu cho VAMC với mong muốn VAMC sẽ giúp họ thu hồi được vốn từ các khách hàng không có khả năng hoàn nợ, chứ họ không muốn sau 5 năm các khoản nợ xấu lại trở về với mình. Vấn đề lớn nhất hiện nay không phải là việc VAMC mua nợ xấu của ai, với giá như thế nào, mà điều các tổ chức tín dụng bán nợ quan tâm là sau khi mua nợ của họ, VAMC sẽ xử lý các khoản nợ xấu như thế nào?

Chính cơ chế này đã tạo ra khó khăn lớn nhất trong việc xử lý nợ xấu hiện nay là hậu mua nợ. Và nếu nền kinh tế không khởi sắc, các doanh nghiệp không trả được nợ thì lúc đó, những món nợ này sẽ là thảm họa thật sự.

Lối thoát cho tình trạng này là sau khi mua nợ xấu, VAMC phải bán được nợ xấu. Đương nhiên khó có thể tìm được người mua nợ xấu ở trong nước mà buộc phải tìm nguồn từ nước ngoài. Nói theo lối thông thường thì vấn đề quan trọng là cần có sự xuất hiện của nhà đầu tư nước ngoài. Hàn Quốc, giai đoạn 1999-2003 đã bán tới 8,5% nợ xấu cho nhà đầu tư nước ngoài. Trong 2 năm 2003-2004, Trung Quốc cũng đã bán 10 tỷ USD nợ xấu cho nước ngoài. Thái Lan, Malaysia... trước đây đã phải thay đổi luật, cho phép người nước ngoài được sở hữu bất động sản để đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu. Chính NHNN mới đây cho biết cần phải đẩy nhanh việc hình thành thị trường mua bán nợ, tạo điều kiện bán nợ cho nhà đầu tư. Để xử lý thành công nợ xấu, VAMC phải bán khoảng 60-70% cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Đây là vấn đề cực khó của Việt Nam lúc này khi chính sách chưa có. Đúng hơn là chúng ta chưa có một thị trường mua bán nợ xấu thật, một cái chợ thật để khách hàng đến mua. Ở nước ta hiện nay, thị trường mua bán nợ được đánh giá còn khá sơ khai, cả về các điều kiện ra đời, phát triển cũng như thực tiễn hoạt động. Theo giới chuyên gia, muốn hình thành được thị trường mua bán nợ cần phải có hành lang pháp lý ổn định. Thị trường này cũng có người bán (DN có nhu cầu bán nợ), người mua (DN có nhu cầu mua nợ), hoạt động, phát triển dưới sự chi phối của các quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, chi phí, lợi nhuận... và một tòa án chuyên nghiệp để xử lý nợ xấu. Những điều ấy còn chưa có ở nước ta. Mặc dù các cơ quan của Nhà nước rất muốn nhanh chóng hoàn tất các thủ tục pháp lý cần thiết để trên cơ sở đó tạo ra một thị trường mua bán nợ tập trung cho tất cả các nhà đầu tư trong nước và quốc tế, nhưng với tiến độ chậm chạp như nước ta chưa biết năm nào có thể có được các điều kiện pháp lý cũng như hạ tầng cho cái chợ mua bán nợ này.

Chính vì vậy, trên diễn đàn Quốc hội, đại biểu Hà Sỹ Đồng, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị đã đề nghị: “Không nên tiếp tục kiểu cơ cấu lại nợ khiên cưỡng hay xử lý nợ xấu qua VAMC như hiện nay, bởi cách làm này tạo ra số liệu ảo, thực trạng ảo, cũng như về cơ bản không làm thay đổi bản chất vấn đề nợ xấu”. Cũng trên diễn đàn này, Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch cho rằng: “Nợ xấu vẫn là điểm nghẽn của nền kinh tế hiện nay. Vừa qua, VAMC đã khởi động mua nợ, nhưng nếu không có dòng tiền từ bên ngoài bơm vào, thì xử lý nợ vẫn là chuyển nợ từ ngân hàng sang VAMC, tức là từ “túi trái sang túi phải” không có gì hơn”.

Rất nhiều chuyên gia kinh tế đánh giá rằng Việt Nam đang có nhiều cơ hội bán nợ cho các tập đoàn nước ngoài. Nếu bỏ lỡ cơ hội này, nợ xấu sẽ khó được xử lý. Vấn đề là hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước có nhanh chóng xây dựng được chính sách mới đáp ứng cơ hội không. Nếu kinh tế phục hồi chậm, thị trường bất động sản cũng không có chuyển biến rõ rệt và xử lý nợ xấu gặp nhiều rủi ro, thì nhà đầu tư nước ngoài sẽ bỏ đi. Đây sẽ là thách thức lớn không chỉ của hệ thống ngân hàng mà của cả nền kinh tế.
 
 Khó nói lắm. Nếu theo quan niệm thông thường, nợ xấu là nợ có khả năng mất vốn, cụ thể hơn là đến hạn phải trả nợ, con nợ rơi vào tình trạng không trả nợ được, thì số nợ xấu có thể lên đến cả triệu tỷ. Nhưng đánh giá thế thì nhiều TCTD mất hết cả vốn à? Không được!
 
Theo Phan Đức
An ninh Thủ đô

Trái phiếu

Là phiếu ghi nợ của tổ chức phát hành trái phiếu đó với những người cho vay của mình. Thường có hai loại trái phiếu là Trái phiếu Chính phủ và Trái phiếu Doanh nghiệp.

Không như Cổ phiếu, người nắm giữ Trái phiếu không phải chịu rủi ro cùng với kết quả hoạt động của tổ chức phát hành.

Có các loại trái phiếu sau:
Người ta có thể phân loại trái phiếu theo thời gian đáo hạn :
- Trái phiếu ngắn hạn (Shorts) có thời hạn từ 1 đến 5 năm;
- Trái phiếu trung hạn (Mediums) có thời hạn từ 5 đến 15 năm;
- Trái phiếu dài hạn (Longs) có thời hạn hơn 15 năm;
- Trái phiếu vô hạn (Perpetuities) không có ghi ngày đáo hạn.
Có thể phân loại trái phiếu theo cơ quan phát hành:
- Trái phiếu chính phủ;
- Trái phiếu đô thị;
- Trái phiếu doanh nghiệp.
Tại Hoa Kỳ, có rât nhiều cơ quan phát hành trái phiếu với tổng huy động rất lớn (trên 7000 tỉ USD/năm), loại trái phiếu có giá nhất là trái phiếu kho bạc có những tên gọi theo thời gian đáo hạn:
- Trái phiếu kho bạc (Treasury bonds) hay là T-bonds có kỳ hạn 5 đến 30 năm;
- Tín phiếu kho bạc (Treasury notes) hay là T-notes có kỳ hạn 13, 26 hay 52 tuần;
- Kỳ phiếu kho bạc (Treasury bills) hay là T-bills thường có kỳ hạn 1 năm.
Các loại trái phiếu doanh nghiệp:
- Trái phiếu quỹ chìm (Sinking fund bonds);
- Trái phiếu bảo đảm (Secured bonds);
- Trái phiếu có thế chấp (Mortgaged bonds);
- Trái phiếu không bảo đảm (Debentures);
- Trái phiếu chuyển đổi (Convertible bonds);
- Trái phiếu thu hồi được (Callable bonds - Redeemable bonds).
Các loại trái phiếu đô thị:
- Trái phiếu theo nghĩa vụ tổng quát (General obligation bond);
- Trái phiếu hoàn trả (Put bond);
- Trái phiếu lãi suất thay đổi (Variable rates bond);
- Trái phiếu Zero Coupon (Trái phiếu không có tem tính lãi nhưng giá được chiết khấu rất nhiều;
- Trái phiếu xô (Junk bonds).

Cổ phiếu

Cổ phiếu là phiếu chứng nhận khoản đầu tư của nhà đầu tư vào tổ chức phát hành cổ phiếu đó (thường là các doanh nghiệp). Khi mua cổ phiếu, nhà đầu tư đã chính thức trở thành một trong các người chủ của tổ chức phát hành đó. Cùng được hưởng lợi tức hoặc cùng chịu rủi ro với kết quả kinh doanh của tổ chức đó. Nói tóm lại, CP là phiếu xác nhận quyền cổ đông, quyền làm chủ một phần vốn trong một doanh nghiệp.

Hiện nay, có các loại cổ phiếu sau:
- Cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu vốn), loại cổ phiếu này được chia cổ tức đều đặn hàng năm và được tăng giá trị cổ phiếu khi công ty kinh doanh có lãi và phát tirển tốt. Cổ phiếu thường có thể được chia tách.
- Loại cổ phiếu thứ hai là cổ phiếu ưu đãi, gồm có các phân loại sau:
+ Cổ phiếu ưu đãi;
+ Cổ phiếu ưu đãi dự phần;
+ Cổ phiếu ưu đãi có lãi suất điều chỉnh;
+ Cổ phiếu ưu đãi theo thị trường tiền tệ (MMPS).
Các Cổ phiếu ưu đãi có thể chia ra các phân loại:
+ Cổ phiếu ưu đãi thu hồi;
+ Cổ phiếu ưu đãi bảo đảm.


Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

SO SÁNH SỨC KHỎE CỦA CÁC NGÂN HÀNG

Nhiều nhà băng vẫn "mạnh tay" tuyển dụng

Khác với nhiều thông tin cho rằng nhân sự ngân hàng mất việc nhiều, các con số tổng hợp từ báo cáo tài chính hợp nhất của 8 ngân hàng cho một kết quả khác, cho dù nó cũng chưa phản ánh hết bức tranh nhân sự chung của ngành ngân hàng.
lương


Tính đến 30/9/2013, số nhân viên tại Vietinbank giảm 87 người so với đầu năm, mức giảm nhân sự tại Eximbank là 102 người và đặc biệt, ACB cắt giảm tới 927 nhân viên so với hồi đầu năm.

Tuy vậy, 5 ngân hàng được đưa vào so sánh như Vietcombank, Sacombank, MB, VPBank, DongABank lại tuyển dụng thêm khá nhiều nhân sự, trong đó, một hiện tượng không thể không nhắc đến là VPBank.

Số nhân viên tại VPBank đến 30/9/2013 đã tăng thêm 2.130 người so với hồi cuối năm 2012, theo số liệu thu được từ báo cáo tài chính hợp nhất của ngân hàng này.

VPBank đang đi ngược với xu hướng cắt giảm nhân sự ở nhiều ngân hàng, nhưng mặt khác cũng cho thấy nhà băng này đang quyết tâm mở rộng tầm ảnh hưởng của mình với thị trường tài chính, mà có thể là một kế hoạch tham vọng của Tổng giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh, người từng đưa Techcombank thành công một thời.

Tính chung lại, 8 ngân hàng trên vẫn tuyển thêm 1.931 nhân viên so với hồi cuối năm 2012. Con số này phần nào cho thấy nhân sự ngân hàng vẫn "hót", và đặt biệt chưa có dấu hiệu "suy thoái" cầu nhân sự ngân hàng, bất chấp bức tranh lợi nhuận ngành này không mấy sáng sủa như kỳ vọng.

Trong 8 ngân hàng trên, Vietinbank vẫn tiếp tục dẫn đầu về số lượng nhân viên khi có tới 19.753 nhân sự tính đến 30/9/2013. Số nhân viên này đang vận hàng khối tài sản lên tới 528.608 tỷ đồng.

Trong khi đó, Sacombank lại nhỉnh hơn hẳn so với khối ngân hàng cổ phần nhà nước không hoặc ít nắm giữ vốn khi có tới 10.520 nhân viên.

Chênh nhau "đẳng cấp" kiếm tiền

Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất của 13 ngân hàng thương mại, gồm Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Sacombank, ACB, Eximbank, MB, DongABank, SaigonBank, Southern Bank, OceanBank, NaviBank, VPBank cho thấy con số lãi trước thuế gần 8.800 tỷ đồng trong quý III/2013 và lãi trên 24.000 tỷ đồng trong 9 tháng năm 2013.

Nhìn chung, tăng trưởng lợi nhuận quý III và 9 tháng năm nay so với cùng kỳ chủ yếu nằm ở các ngân hàng lớn, còn tình trạng suy giảm lợi nhuận lại rơi vào ngân hàng nhỏ.

Xét về hiệu quả, MB đứng đầu trong 8 ngân hàng trên khi mỗi nhân viên ngân hàng này tạo ra gần 409 triệu đồng lợi nhuận trước thuế trong 9 đầu năm nay.

Tương tự, nhân viên của Vietinbank tạo ra 356 triệu đồng lợi nhuận trước thuế trong 9 tháng, Vietcombank (289 triệu đồng), Sacombank (210 triệu đồng).

Ở nhóm có hiệu quả thấp, do lợi nhuận ở mức khiêm tốn trong khi nhân sự đông đảo, nên hiệu quả trung bình mỗi nhân viên VPBank, DongABank chỉ tạo ra hơn 90 triệu đồng lợi nhuận trước thuế trong 9 tháng.

Ngân hàng nào trả lương "khủng" nhất?

Báo cáo tài chính hợp nhất 9 tháng năm 2013 cho thấy, quỹ chi phí cho nhân viên (chủ yếu là lương) của Vietinbank đứng đầu với 3.349 tỷ đồng, kế đến là Vietcombank (2.276 tỷ đồng), Sacombank (1.726 tỷ đồng)... Ở một con số khác, quỹ lương của VPBank và DongABank khá khiêm tốn so với các ngân hàng khác.

Tính trung bình mỗi tháng, Vietinbank, MB chi khoảng 18,8 triệu đồng cho mỗi nhân viên. Mức thu nhập bình quân đầu người ở Vietcombank là 18,3 triệu đồng/người, kế đến là mức thu nhập tại Sacombank (18,2 triệu đồng/người/tháng),...

Mức thu nhập bình quân thấp nhất ghi nhận ở con số 10,75 triệu đồng/tháng tại DongABank.

Mức lương bình quân này đã thấp hơn so với con số trên 20 triệu đồng/tháng cách đây vài năm, tuy nhiên, đây vẫn là con số hấp dẫn và đáng mơ ước nếu so sánh trên bình diện các công việc khác.

Theo Bizlive

DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG

1  NHTMCP An Bình - ABB
2  NHTMCP Á Châu - ACB  
3  NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  AGRB
4  NH Đầu Tư và Phát triển Việt Nam  BIDV  
5  NHTMCP Bảo Việt  BVB  
6  NHTMCP Công Thương Việt Nam  CTG  
7  NHTMCP Đại Á  DAB  
8  NHTMCP Đông Á  EAB  
9  NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank)  EIB  
10  NHTMCP Bản Việt (Viet Capital Commercial Joint Stock Bank - Viet Capital Bank).GDB
11  NHTMCP Dầu Khí Toàn Cầu  GPB  
12  NHTMCP Đại Tín  GTB  
13  NHTMCP Phát triển TP.HCM  HDB 
14  NHTMCP Kiên Long  KLB  
15  NHTMCP Bưu điện Liên Việt  LPB  
16  NHTMCP Quân đội  MBB  
17  NHTMCP Phát triển Mê Kông  MDB  
18  NH Phát triển Nhà ĐBSCL  MHB  
19  NHTMCP Hàng Hải  MSB  
20  NHTMCP Nam Á  NAB  
21  NHTMCP Bắc Á  NAS  9/1/1994  3.000    33.759
22  NHTMCP Nam Việt  NVB  5/18/2006  3.010    21.584
23  NHTMCP Phương Đông  OCB  4/13/1996  3.234    27.424
24  NHTMCP Đại Dương(Ocean Bank)
25  NHTMCP Xăng dầu Petrolimex  PGB  1/12/2007  3.000    19.251
26  NHTMCP Phương Nam  PNB  3/17/1993  4.000    75.270
27  Ngân hàng TMCP Sài Gòn
  2012  10.584    149.206

28  NHTMCP Đông Nam Á  SEAB  3/25/1994  5.335    -Với số vốn điều lệ 5.466 tỷ đồng, SeABank tiếp tục nằm trong nhóm những ngân hàng lớn nhất Việt Nam về vốn điều lệ, tổng tài sản trên 100 nghìn tỷ đồng và mạng lưới hoạt động 155 điểm giao dịch trên toàn quốc. 

Bên cạnh đó, cơ cấu cổ đông của ngân hàng cũng không thay đổi, bao gồm tập đoàn tài chính Société Générale (Pháp) - cổ đông chiến lược nước ngoài sở hữu 20% vốn điều lệ cùng các cổ đông chiến lược trong nước như Công ty Thông tin di động (VMS MobiFone), Tổng công ty Khí Việt Nam (PV Gas) và hàng trăm cổ đông là tổ chức và cá nhân khác.
http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20140114/SeABank-va-PVI-Holdings-hop-tac-toan-dien.aspx
http://dantri.com.vn/kinh-doanh/seabank-lien-tiep-nhan-nhieu-giai-thuong-quoc-te-danh-gia-802217.htm

29  NHTMCP Sài Gòn Công thương  SGB  5/4/1993  3.080    14.853
30  NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội  SHB 8.866     116.538 
31  NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank – STB) 12/5/1991  10.740    152.119
32  NHTMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) 
33  NHTMCP Tiên Phong  TPB  5/5/2008  5.550    15.120
34  NHTMCP Việt Á  VAB  5/9/2003  3.098    24.699
35  NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam  VCB  1988  23.174    414.475
36  NHTMCP Quốc Tế  VIB  1/25/1996  4.250    65.023
37  NHTMCP Việt Nam Thịnh vượng  VPB  8/12/1993  5.770    102.576
38  NHTMCP Việt Nam Thương tín  VTB  12/15/2006  3.000    16.845

39  NHTMCP Phương Tây  WEB  6/5/2007  3.000   đã hợp nhất với Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại chúng Việt Nam (PVcomBank) vào ngày 30/10/2013. Ngân hàng hợp nhất PVcomBank có vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, quy mô tài sản trên 100.000 tỷ với 102 điểm giao dịch trên cả nước. Đại diện pháp nhân là ông Nguyễn Đình Lâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị.Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sẽ chiếm 52% cổ phần của PvcomBank và 6,7% cổ phần ngân hàng này thuộc về cổ đông chiến lược Morgan Stanley.
http://dantri.com.vn/kinh-doanh/nhung-thuong-vu-dinh-dam-nhat-gioi-ngan-hang-viet-nam-qua-834103.htm

40  Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)

PHỤ LỤC 2. NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI VÀ NGÂN HÀNG LIÊN DOANH
STT  Ngân hàng  Mã  Tên tiếng Anh  Vốn điều lệ (tỷ VND)  Loại hình sở hữu
1  Ngân hàng HSBC  HSBC  HSBC  3.000  100% vốn NN
2  Ngân hàng Standard Chartered  SC  Standard Chartered Bank  3.000  100% vốn NN
3  Ngân hàng Shinhan  Shinhan Bank  Shinhan Bank  3.000  100% vốn NN
4  Ngân hàng ANZ  ANZ  ANZ  3.000  100% vốn NN
5  Ngân hàng Hong Leong  Hong Leong  Hong Leong  3.000  100% vốn NN
6  NHLD VID Public Bank  VID  VID Public Bank  64,0  LD
7  NHLD Indovina  Indovina  Indovina Bank Limited  165,0  LD
8  NH Shinhanvina  Shinhanvina  Shinhanvina Bank  75,0  100% vốn NN
9  NHLD Việt - Thái  Vinasiam  Vinasiam Bank  62,0  LD
10  NHLD Việt - Nga  VRB  Vietnam-Russia Joint Venture Bank  168,5  LD
PHỤ LỤC 3. CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI
STT  Tên chi nhánh  Ngày cấp giấy phép  Vốn ĐL/được cấp (triệu USD)
1  NATIXIS (Pháp)  6/12/1992  15
2  ANZ (Úc)- CN Hà Nội  6/15/1992  20
Hệ thống tài chính Việt Nam    NV05-53-83
Trang 17/25
3  BIDC TP.HCM  12/18/2009  15
4  BIDC Hà Nội  4/22/2011  15
5  Crédit Agricole- CN HCM  4/1/1992  45
6  Crédit Agricole- CN Hà Nội  5/27/1992
7  STANDARD CHARTERED BANK (Anh)- CN Hà Nội  6/1/1994  20
8  STANDARD CHARTERED BANK (Anh)- CN HCM  12/28/2005  15
9  CITI BANK- CN Hà Nội  12/19/1994  20
10  CITI BANK- CN. TP Hồ Chí Minh  12/22/1997
11  Taipei Fubon Bình Thạnh  1/8/2008  19
12  Taipei Fubon Hà Nội  4/9/1993  30
13  Taipei Fubon Chi nhánh phụ TP.Hồ Chí Minh  12/24/1994
14  MAY BANK- CN Hà Nội  8/15/1995  15
15  MAY BANK- CN TP. HCM  3/29/2005  15
16  BANGKOK BANK – CN TP. Hồ Chí Minh  4/15/1992  65
17  Ngân hàng Bangkok – Chi nhánh Hà Nội  3/6/2009  15
18  MIZUHO CORPERATE BANK (Nhật)  7/3/1996  133,5
19  MIZUHO Co. Bank – CN TP.HCM  30/3/2006  133,5
20  BNP (Pháp)  6/5/1992  75
21  HSBC chi nhánh HCM  3/22/1995  15
22  UNITED OVERSEAS BANK (UOB) (Singapore)  3/27/1995  15
23  DEUSTCHE BANK  6/28/1995  50,08
24  BANK OF CHINA, HoChiMinh City Branch  7/24/1995  15
25  BANK OF TOKYO MITSUBISHI UFJ- CN TP.HCM (Nhật)  2/17/1996  145
26  BANK OF TOKYO MITSUBISHI UFJ- Chi nhánh Hà Nội  9/5/1998  15
27  Mega international Commercial Bank Co, HoChiMinh City Branch.  5/3/1996  90
28  OCBC (Singapore)  31.10.96  25
29  WOORI  BANK Chi nhánh Hà Nội  7/10/1997  67
30  WOORI BANK- Chi nhánh Hồ Chí Minh  12/20/2005  67
Hệ thống tài chính Việt Nam    NV05-53-83
Trang 18/25
31  JP MORGAN CHASE  BANK (Mỹ)  7/27/1999  77
32  KOREA EXCHANGE BANK (Hàn Quốc)  8/29/1998  67
33  NH  LÀO – VIỆT  3/23/2000  15
34  NH  LÀO – VIỆT HCM  4/14/2003    15
35  CHINATRUST COM.BANK, HOCHIMINH CITY BRANCH  2/6/2002  50
36  FIRST COMMERCIAL BANK, HOCHIMINH CITY BRANCH  12/9/2002  40
37  FIRST COMMERCIAL BANK Hà Nội  210/GP-NHNN  16
38  FENB (Mỹ)  5/20/2004  15
39  CATHAY UNITED BANK – ChuLai Branch, VietNam(Đài Loan)  6/29/2005  45
40  SUMITOMO (NHẬT)- CN TP. Hồ Chí Minh  12/20/2005  165
41  Sumitomo Chi nhánh Hà Nội  11/4/2008  335
42  HUA NAN COMMERCIAL BANK, LTD HOCHIMINH CITY BRANCH  7/23/2006  65
43  COMMONWEALTH BANK  1/8/2008  28
44  INDUSTRIAL BANK OF KOREA  1/8/2008  115
45  Industrial and Commercial Bank of China Ltd- CN Hà Nội  12/10/2009  50
46  China Construction Bank Corporation- CN TP. Hồ Chí Minh  12/10/2009  30
47  DBS Bank Ltd- CN TP. HCM  1/12/2010  20
48  The Shanghai Commercial & Savings Bank, Ltd - Chi nhánh Đồng Nai  9/23/2010  16
49  Bank of Communication  22/10/2010236/GP-NHNN  50
50  Kookmin  1/19/2011  36
Hệ thống tài chính Việt Nam    NV05-53-83

 Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) tiến hành hợp nhất với Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa và Ngân hàng TMCP Đệ Nhất từ ngày 1/1/2012. Ngày 28/8/2012, thương hiệu Habubank chính thức biến mất khỏi thị trường thông qua sáp nhập với SHB.

Ngày 8/9/2013, Westernbank sáp nhập với Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí (PVFC) thành PVcombank. Ngày 18/11/2013, NHNN có quyết định chấp thuận việc sáp nhập DaiABank vào HDBank. Ngoài ra, nhiều ngân hàng lên kế hoạch tự tái cơ cấu như Navibank, Trustbank, TPBank và GPBank.

NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan của Chính phủ và là ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng  của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. 

Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước; có trụ sở chính tại
Thủ đô Hà Nội.

Mới đây nhất, Nghị định số 156/2013 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước được Chính phủ ban hành. Như vậy, sau hơn 50 năm, Ngân hàng Nhà nước được nhận lại quyền hạn của một Ngân hàng Trung ương.

Theo Nghị định ghi rõ: Ngân hàng Nhà nước được xác định là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước.

Với nghị định này, lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước được trao quyền của một Ngân hàng Trung ương, hoạt động độc lập và tự chủ, theo các chuẩn mức quốc tế, với nhiệm vụ quan trọng nhất là ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm cho các tổ chức tín dụng hoạt động lành mạnh trong khuôn khổ luật pháp.


Ngân hàng nhà nước sẽ được mua bán ngoại hối với ngân sách nhà nước
Ngân hàng nhà nước sẽ được mua bán ngoại hối với ngân sách nhà nước

Lâu nay, với tư cách một cơ quan ngang bộ, Ngân hàng Nhà nước cũng phải kiêm thêm trách nhiệm đảm bảo tăng trưởng kinh tế hài hòa với mục tiêu kiểm soát lạm phát, nhiệm vụ dường như bất khả thi với một cơ quan điều tiết dòng tiền trong nền kinh tế.

Nghị định còn được phép cơ quan này mua bán ngoại hối trên thị trường trong nước vì mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia; mua bán ngoại hối với ngân sách nhà nước, các tổ chức quốc tế và các nguồn khác; mua bán ngoại hối trên thị trường quốc tế và thực hiện giao dịch ngoại hối khác theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, Nghị định 156 bổ sung chức năng quản lý hoạt động kinh doanh vàng, công việc mà Ngân hàng Nhà nước đang làm hơn một năm qua theo quy định tại Nghị định 54 của Chính phủ.

Nghị định 156 sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/12/2013, thay thế Nghị định 96/2008 do Chính phủ ban hành từ 2008.

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

NHTMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank)

Ra đời ngày 27/9/1993, đến nay vừa tròn 20 năm, Techcombank mang lại ấn tượng cho mọi người là một ngân hàng năng động, với công nghệ ngân hàng hiện đại để mang lại cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ tiện lợi và chất lượng. Điều này càng thể hiện rõ khi trong chuỗi sự kiện khai trương Trụ Sở Techcombank Miền Nam nhân dịp mừng sinh nhật 20 năm, Techcombank đã sử dụng nhiều công nghệ hiện đại để mang đến cho khán giải những trải nghiệm thú vị và những màn biểu diễn hấp dẫn


Ngày 19/4, Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2014 tại Techcombank Tower, 191 Bà Triệu, Hà Nội.

Đại hội đã tổng kết nhiệm kỳ 2009-2014; thông qua danh sách các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới 2014 – 2019, và định hướng phát triển Ngân hàng nhiệm kỳ 2014-2019, kế hoạch kinh doanh năm 2014, cũng như các nội dung liên quan đến công tác điều hành, quản trị ngân hàng.
Toàn cảnh ĐHĐCĐ sáng nay của Techcombank
Toàn cảnh ĐHĐCĐ sáng nay của Techcombank
Đánh giá kết quả thực hiện trong  nhiệm kỳ 5 năm từ 2009  - 2014 của HĐQT. Ngân hàng đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ về tổng tài sản từ 92.582 lên 158.897 tỉ đồng với tỷ lệ tăng trưởng trung bình đạt 11,4% qua mỗi năm. Qua 5 năm, vốn điều lệ của Ngân hàng tăng từ 5.400 lên 8.878 tỉ đồng, tới 31/12/2013 vốn chủ sở hữu đạt 13.920 tỉ đồng, đảm bảo nguồn lực vốn cần thiết cho các hoạt động và phát triển kinh doanh an toàn, bền vững.
Số lượng nhân viên tăng từ 5.029 lên 7.290 vào cuối 2013, mạng lưới chi nhánh phòng giao dịch được  mở rộng gấp đôi lên 315 cùng với việc phát triển các dịch vụ ngân hàng trực tuyến tiện lợi, các sản phẩm dịch vụ thiết kế phù hợp với nhu cầu của từng nhóm khách hàng đã giúp Techcombank có được sự tin dùng của trên 3,3 triệu khách hàng trên toàn quốc.
Song song với đó, Techcombank cũng xây dựng và duy trì sự ổn định đội ngũ quản trị và điều hành có năng lực vượt trội,  kết hợp giữa các chuyên gia ngân hàng tài năng trong nước với các chuyên gia có bề dày kinh nghiệm quốc tế tâm huyết, tạo nên văn hóa làm việc chuyên nghiệp  và sự phát triển bền vững của Ngân hàng.
Đọc những thông tin kinh tế - tài chính mới nhất trên FICA:
Đại hội đồng cổ đông đã nhất trí thông qua với tỉ lệ  tín nhiệm bầu chọn cao từ các cổ đông cho Hội Đồng Quản Trị, danh sách thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ mới cụ thể như sau:
2. Ông Nguyễn Đăng Quang
3. Ông Nguyễn Thiều Quang
4. Ông Nguyễn Cảnh Sơn
5. Ông Đỗ Tuấn Anh
6. Ông Lee Boon Huat
7. Ông Nguyễn Đoan Hùng - Thành viên Độc lập
Trong kỳ Đại hội lần này, HSBC đã không đề cử ứng viên tham gia HĐQT nhiệm kỳ mới do Thỏa thuận Hỗ trợ kỹ thuật giữa Techcombank và HSBC ký lần đầu vào năm 2005 sẽ kết thúc vào tháng 6/2014. Trong thời gian qua, một phần nhờ vào sự hỗ trợ của HSBC, Techcombank đã xây dựng được hệ thống và  đội ngũ nhân sự mạnh, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu phát triển trong tương lai. HSBC sẽ tiếp tục hỗ trợ Techcombank với vai trò là một cổ đông sở hữu 19,4% cổ phần của Ngân hàng.
Đại hội cũng thông qua định hướng hoạt động nhiệm kỳ 2014-2019. Trong 5 năm tới, Techcombank sẽ tiếp tục kiên định với định hướng chiến lược chuyển đổi đã được khẳng định đúng đắn, và có những điều chỉnh cần thiết để phù hợp với yêu cầu mới, đồng thời, tiếp tục tập trung xây dựng nguồn lực, và phát triển năng lực kinh doanh cốt lõi, góp phần không ngừng nâng cao vị thế, quy mô của Ngân hàng, và sớm hiện thực hóa mục tiêu trở thành Ngân hàng tốt nhất và Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam.
Mục tiêu dài hạn cụ thể  tới cuối năm 2018, tăng gần 75% tổng tài sản lên 275.656 tỷ đồng, tăng gần 3 lần dư nợ và tăng gấp đôi huy động. Tăng trưởng về huy động và cho vay sẽ tập trung nhiều ở phân khúc khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ; tăng tỷ lệ sinh lời ROA và ROE lên 1,65% và 18.22% vào cuối năm 2018; đẩy mạnh nâng cao chất lượng dịch vụ, nhằm tăng cơ cấu doanh thu từ thu nhập từ phí (13% lên 19%); đồng thời; tiếp tục duy trì chính sách cho vay thận trọng, quản lý chặt chất lượng tín dụng, đảm bảo nợ xấu duy trì ở mức dưới 3% tổng dư nợ.
Riêng trong năm 2014, với đánh giá tình hình thị trường tiếp tục tiềm ẩn nhiều thách thức khó khăn, mục tiêu kinh doanh đã được Đại hội thông qua với những chỉ tiêu tài chính cơ bản cụ thể: Tổng tài sản tăng 7,6% lên gần 171.000 tỉ đồng, huy động vốn tăng 16% (142,68 ngàn tỉ đồng);  dư nợ tín dụng tăng 13% (106,83 ngàn tỉ đồng); lợi nhuận trước thuế tăng 35% (1.181 tỉ đồng).
--------------------

Ngày 9/11 tại Trung tâm Hội nghị Riverside Palace (TP.HCM), Ngân hàng Thương mại Cổ phẩn Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã được trao tặng Giải thưởng Tin & Dùng Việt Nam năm 2013 cho "Dịch vụ khách hàng thẻ thanh toán và chăm sóc khách hàng sử dụng thẻ". Đây là năm thứ 3 liên tiếp, sản phẩm và dịch vụ của Techcombank được trao tặng giải thưởng này. 

Theo Techcombank, trong thời gian qua ngân hàng đã liên tục đầu tư, cải tiến, hiện đại hóa hệ thống ngân hàng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ thẻ, cung cấp các sản phẩm dịch vụ thẻ trên thị trường, bao gồm: thẻ thanh toán nội địa Fast-Access, thẻ thanh toán quốc tế (Techcombank Visa Debit) và thẻ tín dụng quốc tế (Techcombank Visa Credit) với đầy đủ các hạng từ hạng chuẩn, vàng tới hạng thẻ cao cấp bạch kim. 

Đồng thời Techcombank cũng là ngân hàng có hệ thống thẻ liên kết với nhiều tính năng, lợi ích nổi trội cho khách hàng với thẻ đồng thương hiệu Vietnam Airlines Techcombank Visa, thẻ MercedesCard Platinum, thẻ Vincom Loyalty Visa, thẻ Vip Vingroup Techcombank Visa... 

Tính đến thời điểm hiện tại, Techcombank có hơn 2,1 triệu khách hàng thẻ, trên 1300 máy ATM, 1000 đại lý thanh toán POS, đồng thời mở rộng liên kết hợp tác cùng khoảng 500 đơn vị chấp nhận thẻ với hơn 1000 điểm ưu đãi (được gọi là hệ thống Techcombank Smile) gồm các trung tâm mua sắm, du lịch, ăn uống, nghỉ dưỡng cao cấp để mang tới những ưu đãi tốt nhất cho khách hàng khi thanh toán bằng thẻ (chiết khấu, giảm giá, tặng quà), và vẫn liên tục cải tiến, mở rộng hệ thống nhằm tạo thuận lợi tối đa cho chủ thẻ. 

Ngoài ra, nhằm khuyến khích khách hàng sử dụng thẻ khi thanh toán, Techcombank còn không ngừng mở rộng, tăng cường các tiện ích, chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng như thông báo tin giao dịch qua SMS, email; dịch vụ hỗ trợ khác hàng 24/7; tính năng thanh toán trực tuyến. 

Đặc biệt, Techcombank thường xuyên tung ra các chương trình khuyến mãi hấp dẫn dành cho khách hàng như chiết khấu, giảm giá vé máy bay, hoàn tiền cho khách hàng khi mở mới, chi tiêu qua thẻ, các giải thưởng may mắn có giá trị lớn cuối chương trình hay các chương trình Techcombank Xsmile với ưu đãi, giảm giá đặc biệt khi mua sắm lên tới 50%. 

Tin & Dùng là chương trình bình chọn sản phẩm hàng hóa/dịch vụ trên thị trường Việt Nam được người tiêu dùng ưa chuộng và lựa chọn do Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Tư vấn Tiêu & Dùng tổ chức thường niên từ năm 2006. Đây là chương trình khảo sát lấy ý kiến người tiêu dùng qua hệ thống ấn phẩm của Thời báo Kinh tế Việt Nam, Tạp chí Tư vấn Tiêu & Dùng và thực hiện phiếu điều tra trực tiếp tại các siêu thị Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh. 

Chương trình cũng đưa ra đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm/dịch vụ, dịch vụ hậu mãi, sự lựa chọn và những dự định trong tương lai của người tiêu dùng về mua sắm và sử dụng sản phẩm/dịch vụ. 




H.S


Trong năm 2013, ngân hàng tiếp tục chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ, đồng thời duy trì chính sách cho vay thận trong và đảm bảo chất lượng tài sản.

Năm 2013, Techcombank cho biết đã đặc biệt chú trọng phát triển thị trường miền Nam, và hiện có tổng trên 300 chi nhánh, phòng giao dịch, 1.229 ATM. Số lượng khách hàng cá nhân đã lên tới gần 3,3 triệu, hỗ trợ cho huy động dân cư (số dư tại thời điểm 31/12/2013 là 119.978 tỷ đồng), tăng 7,64% so với năm 2012.

Trong khi đó, với việc duy trì chính sách cho vay thận trọng và chú trọng tới chất lượng tài sản, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng này năm qua ở mức khiêm tốn 2,95% (số dư tại thời điểm 31/12/2013 là 70.275 tỷ đồng), tỷ lệ cho vay trên huy động chỉ ở mức 57,31%.

“Đặc biệt chú trọng công tác quản lý và thu hồi nợ kết hợp với việc tiếp tục chính sách quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế đảm bảo tính minh bạch cao, mặc dù tình hình thị trường đang còn khó khăn, tỷ lệ nợ xấu của Techcombank đã được kiểm soát tốt ở mức 3,65%”, thông cáo của Techcombank viết. Theo đó, nợ xấu của ngân hàng này đã giảm rất mạnh, từ mức khoảng 5,9% quý 3/2013.

Cùng với tỷ lệ cho vay trên huy động thấp, tiếp tục là đặc điểm nổi bật trong hoạt động của Techcombank những năm gần đây là một tỷ lệ an toàn vốn (CAR) khá cao. Tỷ lệ CAR của ngân hàng này tại thời điểm 31/12/2013 là 14,03%, trong khi mức tối thiểu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước là 9%.
----------------
Gia đình ông Hồ Hùng Anh đang nắm gần 48,59 triệu cổ phiếu, tương đương hơn 5,47% vốn Techcombank. 

Masan hiện chính là cổ đông lớn nhất của ngân hàng này với hơn 19,5% vốn, tương đương hơn 173,15 triệu cổ phiếu. 

Tiếp đến là HSBC với hơn 19,41% vốn, tương đương hơn 172,35 triệu cổ phiếu.

ông Đăng Quang đang nắm hơn 2,85 triệu cổ phiếu, tương ứng hơn 0,32% vốn. 

Bà Hoàng Yến, vợ ông Quang, nắm hơn 6,94 triệu cổ phiếu tương đương 0,782% vốn Techcombank.

ông Nguyễn Đăng Quang - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Masan, đồng thời cũng là Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng quản trị Techcombank.

Ông Đăng Quang hiện chỉ nắm 10 cổ phiếu MSN của Masan, nhưng vợ ông là bà Nguyễn Hoàng Yến nắm tới 21,78 triệu cổ phiếu MSN, tương đương 2,96% vốn Masan. Bà Yến hiện cũng là Thành viên Hội đồng quản trị tập đoàn này.

Với việc nắm lượng lớn cổ phiếu MSN, bà Nguyễn Hoàng Yến cũng là một trong những người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam với gần 2.178 tỷ đồng.