Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2013

80 chi nhánh ngân hàng tại TP HCM thua lỗ

Trong năm 2013, có 80 chi nhánh trên tổng số 378 chi nhánh của các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn TP HCM vẫn thua lỗ.


Đó là thông tin được ông Tô Duy Lâm, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước TP HCM cho biết tại Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng trên địa bàn TP HCM năm 2013.

Cũng theo số liệu của ông Lâm, ước đến cuối năm 2013, tổng vốn huy động của các ngân hàng trên địa bàn thành phố tăng 11% so với năm trước; tăng trưởng tín dụng đạt 9%; tỷ lệ nợ xấu 5,49%.

ngân hàng
Tính chung, lợi nhuận của các ngân hàng vẫn tăng tron năm 2013
Riêng kết quả kinh doanh (chênh lệch thu nhập và chi phí) của các ngân hàng trên địa bàn năm 2013 đạt 5.459 tỷ đồng (con số của năm 2012 là hơn 666 tỷ đồng). Tuy vậy, số liệu thống kê cho thấy, vẫn có 80 chi nhánh trên tổng số 378 chi nhánh của các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn TP HCM vẫn thua lỗ (chiếm tỷ lệ khoảng 21%), nhưng sau khi bù trừ, lợi nhuận của các ngân hàng vẫn tăng.

Năm 2013, các ngân hàng trên địa bàn TP HCM đã xử lý được 20.000 tỷ đồng nợ xấu, trong đó, thu nợ bằng tiền là 5.846 tỷ đồng, bằng dự phòng rủi ro là 4.594 tỷ đồng, bán nợ cho VAMC là 5.174 tỷ đồng.

Tuy nhiên, theo ông Lâm, nợ xấu và ảnh hưởng của nợ xấu vẫn là vấn đề đặc biệt quan tâm của các ngân hàng và cả hệ thống. Nợ xấu tiếp tục phát sinh, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động các ngân hàng. Mặc dù lợi nhuận của các ngân hàng có cải thiện so với năm trước, song nhìn chung, các nhà băng cũng chỉ có thể đạt được 50-70% chỉ tiêu lợi nhuận đưa ra.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho rằng, lợi nhuận của ngân hàng sẽ khó có thể đạt mức cao và chia cổ tức nhiều. Ngân hàng là kênh kinh doanh trung gian, nên không thể lời nhiều, nhất là khi chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay đang dần thu hẹp lại, nên lợi nhuận khó đạt mức cao như trước đây.

Thậm chí, một số ngân hàng trong năm nay sẽ không còn cổ tức cho cổ đông, mà phải dành lợi nhuận để trích dự phòng rủi ro. Điều này cũng được Ngân hàng Nhà nước khuyến khích, vì hoạt động ngân hàng an toàn mới có thể kỳ vọng lợi nhuận.

Theo Đầu tư Chứng khoán

Ngân hàng 2013: Ít xáo trộn, nhiều đổi thay

Tienphong.vn - 1 ngày trước 1633

Trong 5 năm trở lại đây, có thể xem 2013 là năm ít xáo trộn nhất trong hoạt động ngân hàng, xét ở những biểu hiện và phản ứng trên thị trường. Nhưng đây lại là một năm có những sự kiện, thay đổi quan trọng.


Ngân hàng 2013: Ít xáo trộn, nhiều đổi thay

Dưới đây là 10 điểm nổi bật nhất trong hoạt động ngân hàng một năm qua.

Sau thời gian khá dài bàn tính, lần đầu tiên mô hình xử lý nợ VAMC ra đời, bắt đầu mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng từ tháng 10/2013
Sau thời gian khá dài bàn tính, lần đầu tiên mô hình xử lý nợ VAMC ra đời, bắt đầu mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng từ tháng 10/2013.

1. Lạm phát thấp nhất 10 năm

Với mức tăng 6,04%, CPI 2013 thấp nhất trong vòng 10 năm qua. Đây là một thành công trong điều hành chính sách tiền tệ, có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Đầu năm, có quan điểm lo ngại, đặc biệt là các tổ chức quốc tế, về một cú hồi mã thương của lạm phát khi chính sách tiền tệ có dấu hiệu nới lỏng, qua tốc độ giảm lãi suất khá nhanh, cung tiền tăng trưởng khá cao...

Tuy nhiên, sau nhiều năm bùng nổ, tăng trưởng tín dụng đã hãm phanh (năm 2013 dự kiến khoảng 11%), là một yếu tố quan trọng để giới hạn mức độ nới lỏng nói trên, hạn chế tác động bất lợi đối với lạm phát. Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước liên tục sử dụng các công cụ để điều tiết cung tiền hợp lý, đặc biệt là lượng tiền cung ứng mua vào ngoại tệ.

Bên cạnh kiềm chế lạm phát, nhịp độ điều tiết của Ngân hàng Nhà nước đã cân đối được các áp lực đối với lãi suất, tỷ giá và đặc biệt là vấn đề thanh khoản hệ thống.

2. Lãi suất giảm nhanh

Với diễn biến thuận lợi của lạm phát, chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đã bắt nhịp để có những điều chỉnh nhanh hơn dự tính.

Trong năm 2013, Ngân hàng Nhà nước đã giảm 2%/năm các mức lãi suất điều hành; giảm 3%/năm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên; giảm 1%/năm lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi bằng VND, từ cuối tháng 6 cho phép các ngân hàng thương mại tự ấn định lãi suất tiền gửi VND có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.

Mặt bằng lãi suất tiếp tục giảm 2-5%/năm trong 2013 (trở về mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006) nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ. Lãi suất cho vay cũng đã giảm xuống thấp, phổ biến dưới 13%/năm đến cuối 2013.

3. Cam kết ổn định tỷ giá ba lần thử lửa

Lần thứ ba Ngân hàng Nhà nước đưa ra cam kết ổn định tỷ giá USD/VND với mức tăng không quá 2-3%. Chung cuộc là mức tăng chỉ 1,3%, tỷ giá và thị trường ngoại hối tiếp tục có một năm ổn định, đặc biệt là nguồn lực dự trữ ngoại hối tiếp tục được củng cố (ước tính đạt trên 30 tỷ USD).

Song, áp lực đối với cam kết ổn định tỷ giá luôn tiềm ẩn. Trong năm ít nhất có ba đợt biến động: cuối tháng 2 đầu tháng 3, cuối tháng 6 đầu tháng 7 và gần đây là đầu tháng 12 vừa qua.

Điểm chung, ba đợt biến động đều xuất phát từ những thông tin đồn đoán, những dự báo có ảnh hưởng đến tâm lý thị trường. Điểm chung nữa, với lượng tiền cung ứng mua vào ngoại tệ lớn chuyển tiếp từ 2012, trạng thái dư tiền đồng kéo dài trong hệ thống, đầu ra tín dụng khó đẩy mạnh, hiện tượng găm giữ ngoại tệ có biểu hiện ở tiền gửi ngoại tệ tăng khá cao... cũng là những nguyên nhân đáng chú ý.

Cả ba lần, Ngân hàng Nhà nước thể hiện sự linh hoạt, cũng như có hành động can thiệp kịp thời. Thông tin định hướng thị trường đã nhanh hơn, nguồn lực dữ trữ để bán ra bình ổn sẵn sàng hơn, nhưng hơn hết là đã có sự phối hợp tốt hơn giữa chính sách lãi suất với tỷ giá, với điều tiết vốn trong hệ thống; thị trường đã có một cam kết để định hình kỳ vọng và ứng xử; những tác động bất lợi từ thị trường vàng đối với tỷ giá đã được hạn chế.

Và một trong ba lần đó, nhà điều hành đã phải trực tiếp tăng 1% tỷ giá bình quân liên ngân hàng, đồng thời lùi trần lãi suất tiền gửi tối đa USD.

4. Kìm chân nợ xấu và VAMC ra đời

Nợ xấu tiếp tục tăng lên, nhưng tốc độ đã được hãm lại. Đến cuối tháng 11/2013, tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo của các tổ chức tín dụng là 4,55%, chỉ tăng 19% so với mức tăng tới 67% cùng kỳ 2012.

Bên cạnh việc tăng trích lập dự phòng, thu hồi và tự xử lý, tốc độ trên được kìm chân bởi các chính sách có ảnh hưởng lớn: Quyết định 780 cho cơ cấu lại nợ mà không phải chuyển nhóm, hoãn thực hiện Thông tư 02 về phân loại và trích lập dự phòng. Đặc biệt, Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) ra đời bắt đầu có tác động đáng kể đến việc xử lý nợ xấu.

Sau thời gian khá dài bàn tính, lần đầu tiên mô hình xử lý nợ VAMC ra đời, bắt đầu mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng từ tháng 10/2013. Tác động của giải pháp này thể hiện rõ, khi tỷ lệ nợ xấu của hệ thống từ mức cao nhất trong năm 4,73% vào tháng 10 đã giảm xuống còn 4,55% cuối tháng 11.

5. Chính sách tiền tệ một năm nhượng bộ

Như trên, Quyết định 780 và hoãn Thông tư 02 là hai điển hình cho tình thế phải nhượng bộ của chính sách tiền tệ trong năm 2013. Cả hai cơ chế này đều hướng tới tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp vay vốn, giảm tải áp lực nợ xấu cho các tổ chức tín dụng, hay là một kế hoãn binh để từng bước xử lý những khó khăn của nền kinh tế.

Trong đó, riêng việc thực hiện Thông tư 02 là vấn đề nổi bật và xuyên suốt trong năm 2013, với loạt kiến nghị tiếp tục hoãn áp dụng từ lãnh đạo nhiều ngân hàng thương mại.

Với hai điển hình trên, các chỉ báo về tình hình sức khỏe của hệ thống các tổ chức tín dụng đã không được phản ánh một cách sát thực và đầy đủ. Đây cũng là áp lực dự báo sẽ nổi bật trong năm 2014, khi nhiều khả năng phải ngừng Quyết định 780 và chính thức áp dụng Thông tư 02.

Quyết định 780 và Thông tư 02 một lần nữa cũng là điển hình cho thấy hiệu quả của điều hành chính sách tiền tệ phụ thuộc nhiều vào các chính sách điều tiết tài chính đối với hệ thống các tổ chức tín dụng. Bởi nếu không nhượng bộ như trên, năm 2013 chắc chắn hệ thống đã không có được sự ổn định, hay các vấn đề như thanh khoản, lãi suất, tỷ giá, thậm chí là khả năng đổ vỡ đã trở nên nóng bỏng.

6. Bóc tách xong vốn vàng

Từng có chủ trương từ 2011 và trì hoãn trong 2012, phải đến 30/6/2013 (đúng hơn là một tuần sau mốc này), việc tất toán trạng thái vàng tại các tổ chức tín dụng mới chính thức hoàn thành. Cuối cùng, vốn vàng đã được bóc tách ra khỏi hệ thống; dư nợ cho vay bằng vàng chỉ còn lại phần nhỏ, ước khoảng 5 tấn đến cuối 2013.

Dù muộn và từng phải nhượng bộ, nhưng đây là một thành công nổi bật của Ngân hàng Nhà nước, khi bóc tách được vốn vàng, các yếu tố đòn bẩy tài chính, sự bơm thổi tín dụng và những rủi ro từng khuấy đảo trong hệ thống, thậm chí từng dẫn đến nguy cơ đổ vỡ tại một số tổ chức tín dụng.

Quá trình bóc tách diễn ra căng thẳng từ cuối 2012 đến suốt nửa đầu 2013, là áp lực lớn tại 18 tổ chức tín dụng liên quan, gắn với sự ồn ào của hoạt động đấu thầu vàng miếng và chênh lệch giá trong nước với thế giới, nhưng đã kết thúc trọn vẹn mà không gây tổn thương đến lãi suất và thanh khoản hệ thống.

7. Khác biệt tái cơ cấu

2013 là năm thứ hai hệ thống ngân hàng thực hiện tái cơ cấu. Về cơ bản, tất cả 9 ngân hàng yếu kém xác định trong năm 2012 đã được xử lý, hoặc có phương án xử lý. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục xác định thêm 8 tổ chức tín dụng yếu kém (gồm 2 ngân hàng thương mại và 6 tổ chức tín dụng phi ngân hàng) để triển khai "đợt" nối tiếp.

Cùng với việc hợp nhất giữa PVFC với Western Bank thành PVcomBank, điểm khác biệt trong năm 2013 là sự kiện sáp nhập DaiABank vào HDBank - hai ngân hàng được đánh giá an toàn, lành mạnh và không nằm trong diện phải tái cơ cấu bắt buộc. Sự kiện này có thể mở đầu cho một xu hướng sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng nhỏ và tầm trung thành những định chế lớn hơn, hay một hướng vận động mới của hệ thống những năm tới.

Nếu năm 2012 ồn ào, căng thẳng và cả lo ngại, thì quá trình tái cơ cấu hệ thống đã được "mềm hóa" trong 2013, không gây xáo trộn trên thị trường mà từ đó có thể gây tổn thương đối với các tổ chức tín dụng liên quan. Và sau hai năm triển khai, trật tự và kỷ cương hệ thống đã được củng cố thêm một bước.

8. Thất bại của gói 30.000 tỷ

Bốn tháng kể từ khi có chủ trương, đến tháng 5/2013 gói 30.000 tỷ đồng cho vay hỗ trợ nhà ở mới ra đời. Độ trễ từ chủ trương đến triển khai cũng đã cho thấy sự phức tạp, nhiều vướng mắc của một chính sách nổi bật trong năm qua.

Bên cạnh giá trị xã hội, gói 30.000 tỷ đồng từng được kỳ vọng sẽ giải ngân được 15.000 - 17.000 tỷ đồng ngay trong năm 2013, để nhanh chóng tạo hiệu ứng lan tỏa trên thị trường bất động sản, góp phần gỡ một nút thắt khó khăn mà ngạch ngân hàng có mối liên hệ mật thiết. Nhưng với tiến độ giải ngân sau 6 tháng chưa đầy 2%, có thể khẳng định gói 30.000 tỷ đồng đã thất bại trong năm 2013.

Dù Ngân hàng Nhà nước, sự tham gia của nhóm các ngân hàng quốc doanh chỉ là một cấu phần, cũng như có nhiều nguyên nhân khác nhau gắn với những đầu mối khác nữa, sự thất bại trên cho thấy: không phải cứ có chủ trương và có vốn, muốn bơm ra là bơm được.

9. Xốc lại sức khỏe hệ thống

Thêm một năm khó khăn khi ước tính có khoảng 17% tổ chức tín dụng thua lỗ. Lợi nhuận của toàn hệ thống lũy kế 11 tháng 2013 đạt 29.500 tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm ngoái, nhưng so với 2010 và 2011 thì chỉ bằng 53-64%.

Hệ thống đã không tạo được mức tăng trưởng hai con số về tổng tài sản, về vốn để cho thấy một sự lớn mạnh như trước đây. Tưởng như trái ngược, nhưng chính trong bối cảnh đó tình hình sức khỏe nói chung đã được củng cố lại.

Thay cho hoạt động "bật tường" vốn lẫn nhau và những vòng quay tạo vốn ảo kích thích tăng trưởng nóng phổ biến trước đây, từ cuối 2012 và suốt 2013 tổng tài sản của các tổ chức tín dụng đã tăng trưởng thực chất hơn, thua lỗ có xu hướng được ghi nhận sát hơn.

Năm 2013 chứng kiến một hiện tượng kéo dài: tổng quy mô vốn tự có của khối ngân hàng cổ phần giảm mạnh, xuống thấp hơn tổng quy mô vốn điều lệ. Một khía cạnh sức khỏe hệ thống "chính thức" thể hiện, nhưng quan trọng hơn là nỗ lực khắc phục để có xu hướng cải thiện khá rõ nét trong những tháng cuối năm.

Sau nhiều năm, 2013 cũng là năm đầu tiên hệ thống có được một tỷ lệ cho vay so với huy động (LDR) ở mức thấp, giảm được về gần 85%, thay cho trên 100% những năm trước gắn với tình trạng căng thẳng thanh khoản thường trực. Hệ số an toàn vốn toàn hệ thống được duy trì ở mức cao (từ 13 - 14% trong năm); tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt (dưới 18%)...

Về tổng thể, hệ thống ngân hàng đang sở hữu các chỉ số cơ bản khá tốt. Tuy nhiên, chúng chưa thực sự phản ánh được bản chất trong tình huống không có sự can thiệp của Quyết định 780 và phải thực hiện Thông tư 02 nói trên.

10. Góc nhìn "tín nhiệm"

Ngày 11/6/2013, lần đầu tiên Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm. Với 209 phiếu "tín nhiệm thấp", 194 phiếu "tín nhiệm" và 88 phiếu "tín nhiệm cao", Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình là người có số phiếu "tín nhiệm thấp" cao nhất trong số 47 chức danh được lấy phiếu.

Kết quả trên là một góc nhìn không chỉ riêng về Thống đốc Nguyễn Văn Bình, mà còn gắn với việc điều hành chính sách tiền tệ, với tình hình hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Diễn ra vào giữa năm, góc nhìn đó không phản ánh cho cả năm 2013, nhưng thể hiện sự kỳ vọng chính sách tiền tệ sẽ được điều hành tốt hơn nữa, sức khỏe và hoạt động của hệ thống cải thiện hơn nữa.

Khép lại năm 2013, điểm lại những kết quả kể trên, Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng hẳn cũng đã đáp ứng được phần nào kỳ vọng đó.

Theo Minh Đức

VnEconomy

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Tiến trình xử lý nợ xấu

Việc đầu tiên là các TCTD tự xử, nghĩa là với các khách hàng ruột, phải đáo nợ sớm, hạn vay khoản vay sau phải dài ra, tới được trung, dài hạn thì tốt. Việc này đã được làm cơ bản trong năm 2012.

Nhưng không phải là khách nợ nào cũng được hưởng đặc ân này. Các khách nợ tuy mất khả năng trả nợ nhưng vẫn hoạt động lắt lay sẽ được xử lý theo Quyết định số 780/QĐ-NHNN cho phép cơ cấu lại nợ. Con số thống kê cho thấy 300.000 tỷ đồng tiền nợ đã được xử lý bằng biện pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với khách hàng gặp khó khăn tạm thời nhưng có phương án tái cơ cấu, khắc phục khó khăn và có khả năng, triển vọng vượt qua khó khăn, một khối lượng lớn dư nợ tín dụng được giữ nguyên nhóm đã góp phần hỗ trợ giảm bớt khó khăn tài chính cho doanh nghiệp do không phải trả lãi phạt và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp tục có thể vay vốn ngân hàng. Con số này tương đương 10% tổng dư nợ. Một số chuyên gia tài chính nhận định: Nếu không có Quyết định số 780/QĐ-NHNN, trong số 10% này sẽ có ít ra 70% thành nợ xấu nhóm cuối cùng.

Phần nợ xấu còn lại, các TCTD có thể đưa ra khỏi nợ xấu bằng cách trích lập dự phòng rủi ro. Mà với công thức tính: số tiền trích lập bằng dư nợ trừ đi giá trị tài sản đảm bảo nhân với tỷ lệ quy định tại Thông tư 02/NHNN thì cũng không là bao nhiêu. Chính vì vậy, cho đến cuối tháng 9-2013, tổng nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống ngân hàng chiếm 4,62% tổng dư nợ. Tỷ lệ trên giảm nhẹ so với mức 4,64% cuối tháng 8-2013, nhưng tăng 20,20% so với cuối năm 2012. Tốc độ tăng nợ xấu bình quân trong 9 tháng đầu năm 2013 đã giảm so với năm 2012 (2,2%/tháng so với mức 3,91%/tháng).

Đáng chú ý, theo Ngân hàng Nhà nước, nếu không thực hiện Quyết định số 780/QĐ-NHNN cho phép cơ cấu lại nợ và không xử lý bằng dự phòng rủi ro trong năm 2012 và 9 tháng đầu năm 2013, thì nợ xấu toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 9-2013 lên tới 12,7%. Nghĩa là không thu được nợ, nhưng nợ xấu đã bay đi 8%. Nợ chưa thu được, nợ vẫn còn nguyên và các TCTD vẫn đang nợ nguồn huy động số nợ đó. Và nếu các khách nợ không trả được thì… không bàn chuyện hoạt động nữa. Tuy nhiên gần 5% tổng dư nợ là nợ xấu nội bảng thì vẫn là khối ung thư cần phải chữa trị. Và VAMC (Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) ra đời.

Bán nợ xấu như thế cũng chỉ là tạm chưa tính thôi

Theo nguyên tắc, các khoản nợ xấu của các TCTD có nợ xấu quá 3% tổng dư nợ, phải bán nợ cho VAMC. Tuy nhiên, việc bán nợ này thực chất cũng chỉ là gửi nợ vì sau 5 năm, số nợ này lại quay về TCTD. Các TCTD bán nợ xấu cho VAMC với mong muốn VAMC sẽ giúp họ thu hồi được vốn từ các khách hàng không có khả năng hoàn nợ, chứ họ không muốn sau 5 năm các khoản nợ xấu lại trở về với mình. Vấn đề lớn nhất hiện nay không phải là việc VAMC mua nợ xấu của ai, với giá như thế nào, mà điều các tổ chức tín dụng bán nợ quan tâm là sau khi mua nợ của họ, VAMC sẽ xử lý các khoản nợ xấu như thế nào?

Chính cơ chế này đã tạo ra khó khăn lớn nhất trong việc xử lý nợ xấu hiện nay là hậu mua nợ. Và nếu nền kinh tế không khởi sắc, các doanh nghiệp không trả được nợ thì lúc đó, những món nợ này sẽ là thảm họa thật sự.

Lối thoát cho tình trạng này là sau khi mua nợ xấu, VAMC phải bán được nợ xấu. Đương nhiên khó có thể tìm được người mua nợ xấu ở trong nước mà buộc phải tìm nguồn từ nước ngoài. Nói theo lối thông thường thì vấn đề quan trọng là cần có sự xuất hiện của nhà đầu tư nước ngoài. Hàn Quốc, giai đoạn 1999-2003 đã bán tới 8,5% nợ xấu cho nhà đầu tư nước ngoài. Trong 2 năm 2003-2004, Trung Quốc cũng đã bán 10 tỷ USD nợ xấu cho nước ngoài. Thái Lan, Malaysia... trước đây đã phải thay đổi luật, cho phép người nước ngoài được sở hữu bất động sản để đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu. Chính NHNN mới đây cho biết cần phải đẩy nhanh việc hình thành thị trường mua bán nợ, tạo điều kiện bán nợ cho nhà đầu tư. Để xử lý thành công nợ xấu, VAMC phải bán khoảng 60-70% cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Đây là vấn đề cực khó của Việt Nam lúc này khi chính sách chưa có. Đúng hơn là chúng ta chưa có một thị trường mua bán nợ xấu thật, một cái chợ thật để khách hàng đến mua. Ở nước ta hiện nay, thị trường mua bán nợ được đánh giá còn khá sơ khai, cả về các điều kiện ra đời, phát triển cũng như thực tiễn hoạt động. Theo giới chuyên gia, muốn hình thành được thị trường mua bán nợ cần phải có hành lang pháp lý ổn định. Thị trường này cũng có người bán (DN có nhu cầu bán nợ), người mua (DN có nhu cầu mua nợ), hoạt động, phát triển dưới sự chi phối của các quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, chi phí, lợi nhuận... và một tòa án chuyên nghiệp để xử lý nợ xấu. Những điều ấy còn chưa có ở nước ta. Mặc dù các cơ quan của Nhà nước rất muốn nhanh chóng hoàn tất các thủ tục pháp lý cần thiết để trên cơ sở đó tạo ra một thị trường mua bán nợ tập trung cho tất cả các nhà đầu tư trong nước và quốc tế, nhưng với tiến độ chậm chạp như nước ta chưa biết năm nào có thể có được các điều kiện pháp lý cũng như hạ tầng cho cái chợ mua bán nợ này.

Chính vì vậy, trên diễn đàn Quốc hội, đại biểu Hà Sỹ Đồng, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị đã đề nghị: “Không nên tiếp tục kiểu cơ cấu lại nợ khiên cưỡng hay xử lý nợ xấu qua VAMC như hiện nay, bởi cách làm này tạo ra số liệu ảo, thực trạng ảo, cũng như về cơ bản không làm thay đổi bản chất vấn đề nợ xấu”. Cũng trên diễn đàn này, Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch cho rằng: “Nợ xấu vẫn là điểm nghẽn của nền kinh tế hiện nay. Vừa qua, VAMC đã khởi động mua nợ, nhưng nếu không có dòng tiền từ bên ngoài bơm vào, thì xử lý nợ vẫn là chuyển nợ từ ngân hàng sang VAMC, tức là từ “túi trái sang túi phải” không có gì hơn”.

Rất nhiều chuyên gia kinh tế đánh giá rằng Việt Nam đang có nhiều cơ hội bán nợ cho các tập đoàn nước ngoài. Nếu bỏ lỡ cơ hội này, nợ xấu sẽ khó được xử lý. Vấn đề là hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước có nhanh chóng xây dựng được chính sách mới đáp ứng cơ hội không. Nếu kinh tế phục hồi chậm, thị trường bất động sản cũng không có chuyển biến rõ rệt và xử lý nợ xấu gặp nhiều rủi ro, thì nhà đầu tư nước ngoài sẽ bỏ đi. Đây sẽ là thách thức lớn không chỉ của hệ thống ngân hàng mà của cả nền kinh tế.
 
 Khó nói lắm. Nếu theo quan niệm thông thường, nợ xấu là nợ có khả năng mất vốn, cụ thể hơn là đến hạn phải trả nợ, con nợ rơi vào tình trạng không trả nợ được, thì số nợ xấu có thể lên đến cả triệu tỷ. Nhưng đánh giá thế thì nhiều TCTD mất hết cả vốn à? Không được!
 
Theo Phan Đức
An ninh Thủ đô

Trái phiếu

Là phiếu ghi nợ của tổ chức phát hành trái phiếu đó với những người cho vay của mình. Thường có hai loại trái phiếu là Trái phiếu Chính phủ và Trái phiếu Doanh nghiệp.

Không như Cổ phiếu, người nắm giữ Trái phiếu không phải chịu rủi ro cùng với kết quả hoạt động của tổ chức phát hành.

Có các loại trái phiếu sau:
Người ta có thể phân loại trái phiếu theo thời gian đáo hạn :
- Trái phiếu ngắn hạn (Shorts) có thời hạn từ 1 đến 5 năm;
- Trái phiếu trung hạn (Mediums) có thời hạn từ 5 đến 15 năm;
- Trái phiếu dài hạn (Longs) có thời hạn hơn 15 năm;
- Trái phiếu vô hạn (Perpetuities) không có ghi ngày đáo hạn.
Có thể phân loại trái phiếu theo cơ quan phát hành:
- Trái phiếu chính phủ;
- Trái phiếu đô thị;
- Trái phiếu doanh nghiệp.
Tại Hoa Kỳ, có rât nhiều cơ quan phát hành trái phiếu với tổng huy động rất lớn (trên 7000 tỉ USD/năm), loại trái phiếu có giá nhất là trái phiếu kho bạc có những tên gọi theo thời gian đáo hạn:
- Trái phiếu kho bạc (Treasury bonds) hay là T-bonds có kỳ hạn 5 đến 30 năm;
- Tín phiếu kho bạc (Treasury notes) hay là T-notes có kỳ hạn 13, 26 hay 52 tuần;
- Kỳ phiếu kho bạc (Treasury bills) hay là T-bills thường có kỳ hạn 1 năm.
Các loại trái phiếu doanh nghiệp:
- Trái phiếu quỹ chìm (Sinking fund bonds);
- Trái phiếu bảo đảm (Secured bonds);
- Trái phiếu có thế chấp (Mortgaged bonds);
- Trái phiếu không bảo đảm (Debentures);
- Trái phiếu chuyển đổi (Convertible bonds);
- Trái phiếu thu hồi được (Callable bonds - Redeemable bonds).
Các loại trái phiếu đô thị:
- Trái phiếu theo nghĩa vụ tổng quát (General obligation bond);
- Trái phiếu hoàn trả (Put bond);
- Trái phiếu lãi suất thay đổi (Variable rates bond);
- Trái phiếu Zero Coupon (Trái phiếu không có tem tính lãi nhưng giá được chiết khấu rất nhiều;
- Trái phiếu xô (Junk bonds).

Cổ phiếu

Cổ phiếu là phiếu chứng nhận khoản đầu tư của nhà đầu tư vào tổ chức phát hành cổ phiếu đó (thường là các doanh nghiệp). Khi mua cổ phiếu, nhà đầu tư đã chính thức trở thành một trong các người chủ của tổ chức phát hành đó. Cùng được hưởng lợi tức hoặc cùng chịu rủi ro với kết quả kinh doanh của tổ chức đó. Nói tóm lại, CP là phiếu xác nhận quyền cổ đông, quyền làm chủ một phần vốn trong một doanh nghiệp.

Hiện nay, có các loại cổ phiếu sau:
- Cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu vốn), loại cổ phiếu này được chia cổ tức đều đặn hàng năm và được tăng giá trị cổ phiếu khi công ty kinh doanh có lãi và phát tirển tốt. Cổ phiếu thường có thể được chia tách.
- Loại cổ phiếu thứ hai là cổ phiếu ưu đãi, gồm có các phân loại sau:
+ Cổ phiếu ưu đãi;
+ Cổ phiếu ưu đãi dự phần;
+ Cổ phiếu ưu đãi có lãi suất điều chỉnh;
+ Cổ phiếu ưu đãi theo thị trường tiền tệ (MMPS).
Các Cổ phiếu ưu đãi có thể chia ra các phân loại:
+ Cổ phiếu ưu đãi thu hồi;
+ Cổ phiếu ưu đãi bảo đảm.


Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

SO SÁNH SỨC KHỎE CỦA CÁC NGÂN HÀNG

Nhiều nhà băng vẫn "mạnh tay" tuyển dụng

Khác với nhiều thông tin cho rằng nhân sự ngân hàng mất việc nhiều, các con số tổng hợp từ báo cáo tài chính hợp nhất của 8 ngân hàng cho một kết quả khác, cho dù nó cũng chưa phản ánh hết bức tranh nhân sự chung của ngành ngân hàng.
lương


Tính đến 30/9/2013, số nhân viên tại Vietinbank giảm 87 người so với đầu năm, mức giảm nhân sự tại Eximbank là 102 người và đặc biệt, ACB cắt giảm tới 927 nhân viên so với hồi đầu năm.

Tuy vậy, 5 ngân hàng được đưa vào so sánh như Vietcombank, Sacombank, MB, VPBank, DongABank lại tuyển dụng thêm khá nhiều nhân sự, trong đó, một hiện tượng không thể không nhắc đến là VPBank.

Số nhân viên tại VPBank đến 30/9/2013 đã tăng thêm 2.130 người so với hồi cuối năm 2012, theo số liệu thu được từ báo cáo tài chính hợp nhất của ngân hàng này.

VPBank đang đi ngược với xu hướng cắt giảm nhân sự ở nhiều ngân hàng, nhưng mặt khác cũng cho thấy nhà băng này đang quyết tâm mở rộng tầm ảnh hưởng của mình với thị trường tài chính, mà có thể là một kế hoạch tham vọng của Tổng giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh, người từng đưa Techcombank thành công một thời.

Tính chung lại, 8 ngân hàng trên vẫn tuyển thêm 1.931 nhân viên so với hồi cuối năm 2012. Con số này phần nào cho thấy nhân sự ngân hàng vẫn "hót", và đặt biệt chưa có dấu hiệu "suy thoái" cầu nhân sự ngân hàng, bất chấp bức tranh lợi nhuận ngành này không mấy sáng sủa như kỳ vọng.

Trong 8 ngân hàng trên, Vietinbank vẫn tiếp tục dẫn đầu về số lượng nhân viên khi có tới 19.753 nhân sự tính đến 30/9/2013. Số nhân viên này đang vận hàng khối tài sản lên tới 528.608 tỷ đồng.

Trong khi đó, Sacombank lại nhỉnh hơn hẳn so với khối ngân hàng cổ phần nhà nước không hoặc ít nắm giữ vốn khi có tới 10.520 nhân viên.

Chênh nhau "đẳng cấp" kiếm tiền

Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất của 13 ngân hàng thương mại, gồm Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Sacombank, ACB, Eximbank, MB, DongABank, SaigonBank, Southern Bank, OceanBank, NaviBank, VPBank cho thấy con số lãi trước thuế gần 8.800 tỷ đồng trong quý III/2013 và lãi trên 24.000 tỷ đồng trong 9 tháng năm 2013.

Nhìn chung, tăng trưởng lợi nhuận quý III và 9 tháng năm nay so với cùng kỳ chủ yếu nằm ở các ngân hàng lớn, còn tình trạng suy giảm lợi nhuận lại rơi vào ngân hàng nhỏ.

Xét về hiệu quả, MB đứng đầu trong 8 ngân hàng trên khi mỗi nhân viên ngân hàng này tạo ra gần 409 triệu đồng lợi nhuận trước thuế trong 9 đầu năm nay.

Tương tự, nhân viên của Vietinbank tạo ra 356 triệu đồng lợi nhuận trước thuế trong 9 tháng, Vietcombank (289 triệu đồng), Sacombank (210 triệu đồng).

Ở nhóm có hiệu quả thấp, do lợi nhuận ở mức khiêm tốn trong khi nhân sự đông đảo, nên hiệu quả trung bình mỗi nhân viên VPBank, DongABank chỉ tạo ra hơn 90 triệu đồng lợi nhuận trước thuế trong 9 tháng.

Ngân hàng nào trả lương "khủng" nhất?

Báo cáo tài chính hợp nhất 9 tháng năm 2013 cho thấy, quỹ chi phí cho nhân viên (chủ yếu là lương) của Vietinbank đứng đầu với 3.349 tỷ đồng, kế đến là Vietcombank (2.276 tỷ đồng), Sacombank (1.726 tỷ đồng)... Ở một con số khác, quỹ lương của VPBank và DongABank khá khiêm tốn so với các ngân hàng khác.

Tính trung bình mỗi tháng, Vietinbank, MB chi khoảng 18,8 triệu đồng cho mỗi nhân viên. Mức thu nhập bình quân đầu người ở Vietcombank là 18,3 triệu đồng/người, kế đến là mức thu nhập tại Sacombank (18,2 triệu đồng/người/tháng),...

Mức thu nhập bình quân thấp nhất ghi nhận ở con số 10,75 triệu đồng/tháng tại DongABank.

Mức lương bình quân này đã thấp hơn so với con số trên 20 triệu đồng/tháng cách đây vài năm, tuy nhiên, đây vẫn là con số hấp dẫn và đáng mơ ước nếu so sánh trên bình diện các công việc khác.

Theo Bizlive

DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG

1  NHTMCP An Bình - ABB
NHTMCP Á Châu - ACB  
NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  AGRB
4  NH Đầu Tư và Phát triển Việt Nam  BIDV  
5  NHTMCP Bảo Việt  BVB  
NHTMCP Công Thương Việt Nam  CTG  
7  NHTMCP Đại Á  DAB  
8  NHTMCP Đông Á  EAB  
9  NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank)  EIB  
10  NHTMCP Bản Việt (Viet Capital Commercial Joint Stock Bank - Viet Capital Bank).GDB
11  NHTMCP Dầu Khí Toàn Cầu  GPB  
12  NHTMCP Đại Tín  GTB  
13  NHTMCP Phát triển TP.HCM  HDB 
14  NHTMCP Kiên Long  KLB  
15  NHTMCP Bưu điện Liên Việt  LPB  
16  NHTMCP Quân đội  MBB  
17  NHTMCP Phát triển Mê Kông  MDB  
18  NH Phát triển Nhà ĐBSCL  MHB  
19  NHTMCP Hàng Hải  MSB  
20  NHTMCP Nam Á  NAB  
21  NHTMCP Bắc Á  NAS  9/1/1994  3.000    33.759
22  NHTMCP Nam Việt  NVB  5/18/2006  3.010    21.584
23  NHTMCP Phương Đông  OCB  4/13/1996  3.234    27.424
24  NHTMCP Đại Dương(Ocean Bank)
25  NHTMCP Xăng dầu Petrolimex  PGB  1/12/2007  3.000    19.251
26  NHTMCP Phương Nam  PNB  3/17/1993  4.000    75.270
27  Ngân hàng TMCP Sài Gòn
  2012  10.584    149.206

28  NHTMCP Đông Nam Á  SEAB  3/25/1994  5.335    -Với số vốn điều lệ 5.466 tỷ đồng, SeABank tiếp tục nằm trong nhóm những ngân hàng lớn nhất Việt Nam về vốn điều lệ, tổng tài sản trên 100 nghìn tỷ đồng và mạng lưới hoạt động 155 điểm giao dịch trên toàn quốc. 

Bên cạnh đó, cơ cấu cổ đông của ngân hàng cũng không thay đổi, bao gồm tập đoàn tài chính Société Générale (Pháp) - cổ đông chiến lược nước ngoài sở hữu 20% vốn điều lệ cùng các cổ đông chiến lược trong nước như Công ty Thông tin di động (VMS MobiFone), Tổng công ty Khí Việt Nam (PV Gas) và hàng trăm cổ đông là tổ chức và cá nhân khác.
http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20140114/SeABank-va-PVI-Holdings-hop-tac-toan-dien.aspx
http://dantri.com.vn/kinh-doanh/seabank-lien-tiep-nhan-nhieu-giai-thuong-quoc-te-danh-gia-802217.htm

29  NHTMCP Sài Gòn Công thương  SGB  5/4/1993  3.080    14.853
30  NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội  SHB 8.866     116.538 
31  NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank – STB) 12/5/1991  10.740    152.119
32  NHTMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) 
33  NHTMCP Tiên Phong  TPB  5/5/2008  5.550    15.120
34  NHTMCP Việt Á  VAB  5/9/2003  3.098    24.699
35  NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam  VCB  1988  23.174    414.475
36  NHTMCP Quốc Tế  VIB  1/25/1996  4.250    65.023
37  NHTMCP Việt Nam Thịnh vượng  VPB  8/12/1993  5.770    102.576
38  NHTMCP Việt Nam Thương tín  VTB  12/15/2006  3.000    16.845

39  NHTMCP Phương Tây  WEB  6/5/2007  3.000   đã hợp nhất với Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại chúng Việt Nam (PVcomBank) vào ngày 30/10/2013. Ngân hàng hợp nhất PVcomBank có vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, quy mô tài sản trên 100.000 tỷ với 102 điểm giao dịch trên cả nước. Đại diện pháp nhân là ông Nguyễn Đình Lâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị.Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sẽ chiếm 52% cổ phần của PvcomBank và 6,7% cổ phần ngân hàng này thuộc về cổ đông chiến lược Morgan Stanley.
http://dantri.com.vn/kinh-doanh/nhung-thuong-vu-dinh-dam-nhat-gioi-ngan-hang-viet-nam-qua-834103.htm

40  Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)

PHỤ LỤC 2. NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI VÀ NGÂN HÀNG LIÊN DOANH
STT  Ngân hàng  Mã  Tên tiếng Anh  Vốn điều lệ (tỷ VND)  Loại hình sở hữu
1  Ngân hàng HSBC  HSBC  HSBC  3.000  100% vốn NN
2  Ngân hàng Standard Chartered  SC  Standard Chartered Bank  3.000  100% vốn NN
3  Ngân hàng Shinhan  Shinhan Bank  Shinhan Bank  3.000  100% vốn NN
4  Ngân hàng ANZ  ANZ  ANZ  3.000  100% vốn NN
5  Ngân hàng Hong Leong  Hong Leong  Hong Leong  3.000  100% vốn NN
6  NHLD VID Public Bank  VID  VID Public Bank  64,0  LD
NHLD Indovina  Indovina  Indovina Bank Limited  165,0  LD
8  NH Shinhanvina  Shinhanvina  Shinhanvina Bank  75,0  100% vốn NN
NHLD Việt - Thái  Vinasiam  Vinasiam Bank  62,0  LD
10  NHLD Việt - Nga  VRB  Vietnam-Russia Joint Venture Bank  168,5  LD
PHỤ LỤC 3. CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI
STT  Tên chi nhánh  Ngày cấp giấy phép  Vốn ĐL/được cấp (triệu USD)
1  NATIXIS (Pháp)  6/12/1992  15
2  ANZ (Úc)- CN Hà Nội  6/15/1992  20
Hệ thống tài chính Việt Nam    NV05-53-83
Trang 17/25
3  BIDC TP.HCM  12/18/2009  15
4  BIDC Hà Nội  4/22/2011  15
5  Crédit Agricole- CN HCM  4/1/1992  45
6  Crédit Agricole- CN Hà Nội  5/27/1992
7  STANDARD CHARTERED BANK (Anh)- CN Hà Nội  6/1/1994  20
8  STANDARD CHARTERED BANK (Anh)- CN HCM  12/28/2005  15
9  CITI BANK- CN Hà Nội  12/19/1994  20
10  CITI BANK- CN. TP Hồ Chí Minh  12/22/1997
11  Taipei Fubon Bình Thạnh  1/8/2008  19
12  Taipei Fubon Hà Nội  4/9/1993  30
13  Taipei Fubon Chi nhánh phụ TP.Hồ Chí Minh  12/24/1994
14  MAY BANK- CN Hà Nội  8/15/1995  15
15  MAY BANK- CN TP. HCM  3/29/2005  15
16  BANGKOK BANK – CN TP. Hồ Chí Minh  4/15/1992  65
17  Ngân hàng Bangkok – Chi nhánh Hà Nội  3/6/2009  15
18  MIZUHO CORPERATE BANK (Nhật)  7/3/1996  133,5
19  MIZUHO Co. Bank – CN TP.HCM  30/3/2006  133,5
20  BNP (Pháp)  6/5/1992  75
21  HSBC chi nhánh HCM  3/22/1995  15
22  UNITED OVERSEAS BANK (UOB) (Singapore)  3/27/1995  15
23  DEUSTCHE BANK  6/28/1995  50,08
24  BANK OF CHINA, HoChiMinh City Branch  7/24/1995  15
25  BANK OF TOKYO MITSUBISHI UFJ- CN TP.HCM (Nhật)  2/17/1996  145
26  BANK OF TOKYO MITSUBISHI UFJ- Chi nhánh Hà Nội  9/5/1998  15
27  Mega international Commercial Bank Co, HoChiMinh City Branch.  5/3/1996  90
28  OCBC (Singapore)  31.10.96  25
29  WOORI  BANK Chi nhánh Hà Nội  7/10/1997  67
30  WOORI BANK- Chi nhánh Hồ Chí Minh  12/20/2005  67
Hệ thống tài chính Việt Nam    NV05-53-83
Trang 18/25
31  JP MORGAN CHASE  BANK (Mỹ)  7/27/1999  77
32  KOREA EXCHANGE BANK (Hàn Quốc)  8/29/1998  67
33  NH  LÀO – VIỆT  3/23/2000  15
34  NH  LÀO – VIỆT HCM  4/14/2003    15
35  CHINATRUST COM.BANK, HOCHIMINH CITY BRANCH  2/6/2002  50
36  FIRST COMMERCIAL BANK, HOCHIMINH CITY BRANCH  12/9/2002  40
37  FIRST COMMERCIAL BANK Hà Nội  210/GP-NHNN  16
38  FENB (Mỹ)  5/20/2004  15
39  CATHAY UNITED BANK – ChuLai Branch, VietNam(Đài Loan)  6/29/2005  45
40  SUMITOMO (NHẬT)- CN TP. Hồ Chí Minh  12/20/2005  165
41  Sumitomo Chi nhánh Hà Nội  11/4/2008  335
42  HUA NAN COMMERCIAL BANK, LTD HOCHIMINH CITY BRANCH  7/23/2006  65
43  COMMONWEALTH BANK  1/8/2008  28
44  INDUSTRIAL BANK OF KOREA  1/8/2008  115
45  Industrial and Commercial Bank of China Ltd- CN Hà Nội  12/10/2009  50
46  China Construction Bank Corporation- CN TP. Hồ Chí Minh  12/10/2009  30
47  DBS Bank Ltd- CN TP. HCM  1/12/2010  20
48  The Shanghai Commercial & Savings Bank, Ltd - Chi nhánh Đồng Nai  9/23/2010  16
49  Bank of Communication  22/10/2010236/GP-NHNN  50
50  Kookmin  1/19/2011  36
Hệ thống tài chính Việt Nam    NV05-53-83

 Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) tiến hành hợp nhất với Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa và Ngân hàng TMCP Đệ Nhất từ ngày 1/1/2012. Ngày 28/8/2012, thương hiệu Habubank chính thức biến mất khỏi thị trường thông qua sáp nhập với SHB.

Ngày 8/9/2013, Westernbank sáp nhập với Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí (PVFC) thành PVcombank. Ngày 18/11/2013, NHNN có quyết định chấp thuận việc sáp nhập DaiABank vào HDBank. Ngoài ra, nhiều ngân hàng lên kế hoạch tự tái cơ cấu như Navibank, Trustbank, TPBank và GPBank.

NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan của Chính phủ và là ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng  của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. 

Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước; có trụ sở chính tại
Thủ đô Hà Nội.

Mới đây nhất, Nghị định số 156/2013 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước được Chính phủ ban hành. Như vậy, sau hơn 50 năm, Ngân hàng Nhà nước được nhận lại quyền hạn của một Ngân hàng Trung ương.

Theo Nghị định ghi rõ: Ngân hàng Nhà nước được xác định là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước.

Với nghị định này, lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước được trao quyền của một Ngân hàng Trung ương, hoạt động độc lập và tự chủ, theo các chuẩn mức quốc tế, với nhiệm vụ quan trọng nhất là ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm cho các tổ chức tín dụng hoạt động lành mạnh trong khuôn khổ luật pháp.


Ngân hàng nhà nước sẽ được mua bán ngoại hối với ngân sách nhà nước
Ngân hàng nhà nước sẽ được mua bán ngoại hối với ngân sách nhà nước

Lâu nay, với tư cách một cơ quan ngang bộ, Ngân hàng Nhà nước cũng phải kiêm thêm trách nhiệm đảm bảo tăng trưởng kinh tế hài hòa với mục tiêu kiểm soát lạm phát, nhiệm vụ dường như bất khả thi với một cơ quan điều tiết dòng tiền trong nền kinh tế.

Nghị định còn được phép cơ quan này mua bán ngoại hối trên thị trường trong nước vì mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia; mua bán ngoại hối với ngân sách nhà nước, các tổ chức quốc tế và các nguồn khác; mua bán ngoại hối trên thị trường quốc tế và thực hiện giao dịch ngoại hối khác theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, Nghị định 156 bổ sung chức năng quản lý hoạt động kinh doanh vàng, công việc mà Ngân hàng Nhà nước đang làm hơn một năm qua theo quy định tại Nghị định 54 của Chính phủ.

Nghị định 156 sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/12/2013, thay thế Nghị định 96/2008 do Chính phủ ban hành từ 2008.

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

NHTMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank)

Ra đời ngày 27/9/1993, đến nay vừa tròn 20 năm, Techcombank mang lại ấn tượng cho mọi người là một ngân hàng năng động, với công nghệ ngân hàng hiện đại để mang lại cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ tiện lợi và chất lượng. Điều này càng thể hiện rõ khi trong chuỗi sự kiện khai trương Trụ Sở Techcombank Miền Nam nhân dịp mừng sinh nhật 20 năm, Techcombank đã sử dụng nhiều công nghệ hiện đại để mang đến cho khán giải những trải nghiệm thú vị và những màn biểu diễn hấp dẫn


Ngày 19/4, Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2014 tại Techcombank Tower, 191 Bà Triệu, Hà Nội.

Đại hội đã tổng kết nhiệm kỳ 2009-2014; thông qua danh sách các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới 2014 – 2019, và định hướng phát triển Ngân hàng nhiệm kỳ 2014-2019, kế hoạch kinh doanh năm 2014, cũng như các nội dung liên quan đến công tác điều hành, quản trị ngân hàng.
Toàn cảnh ĐHĐCĐ sáng nay của Techcombank
Toàn cảnh ĐHĐCĐ sáng nay của Techcombank
Đánh giá kết quả thực hiện trong  nhiệm kỳ 5 năm từ 2009  - 2014 của HĐQT. Ngân hàng đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ về tổng tài sản từ 92.582 lên 158.897 tỉ đồng với tỷ lệ tăng trưởng trung bình đạt 11,4% qua mỗi năm. Qua 5 năm, vốn điều lệ của Ngân hàng tăng từ 5.400 lên 8.878 tỉ đồng, tới 31/12/2013 vốn chủ sở hữu đạt 13.920 tỉ đồng, đảm bảo nguồn lực vốn cần thiết cho các hoạt động và phát triển kinh doanh an toàn, bền vững.
Số lượng nhân viên tăng từ 5.029 lên 7.290 vào cuối 2013, mạng lưới chi nhánh phòng giao dịch được  mở rộng gấp đôi lên 315 cùng với việc phát triển các dịch vụ ngân hàng trực tuyến tiện lợi, các sản phẩm dịch vụ thiết kế phù hợp với nhu cầu của từng nhóm khách hàng đã giúp Techcombank có được sự tin dùng của trên 3,3 triệu khách hàng trên toàn quốc.
Song song với đó, Techcombank cũng xây dựng và duy trì sự ổn định đội ngũ quản trị và điều hành có năng lực vượt trội,  kết hợp giữa các chuyên gia ngân hàng tài năng trong nước với các chuyên gia có bề dày kinh nghiệm quốc tế tâm huyết, tạo nên văn hóa làm việc chuyên nghiệp  và sự phát triển bền vững của Ngân hàng.
Đọc những thông tin kinh tế - tài chính mới nhất trên FICA:
Đại hội đồng cổ đông đã nhất trí thông qua với tỉ lệ  tín nhiệm bầu chọn cao từ các cổ đông cho Hội Đồng Quản Trị, danh sách thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ mới cụ thể như sau:
2. Ông Nguyễn Đăng Quang
3. Ông Nguyễn Thiều Quang
4. Ông Nguyễn Cảnh Sơn
5. Ông Đỗ Tuấn Anh
6. Ông Lee Boon Huat
7. Ông Nguyễn Đoan Hùng - Thành viên Độc lập
Trong kỳ Đại hội lần này, HSBC đã không đề cử ứng viên tham gia HĐQT nhiệm kỳ mới do Thỏa thuận Hỗ trợ kỹ thuật giữa Techcombank và HSBC ký lần đầu vào năm 2005 sẽ kết thúc vào tháng 6/2014. Trong thời gian qua, một phần nhờ vào sự hỗ trợ của HSBC, Techcombank đã xây dựng được hệ thống và  đội ngũ nhân sự mạnh, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu phát triển trong tương lai. HSBC sẽ tiếp tục hỗ trợ Techcombank với vai trò là một cổ đông sở hữu 19,4% cổ phần của Ngân hàng.
Đại hội cũng thông qua định hướng hoạt động nhiệm kỳ 2014-2019. Trong 5 năm tới, Techcombank sẽ tiếp tục kiên định với định hướng chiến lược chuyển đổi đã được khẳng định đúng đắn, và có những điều chỉnh cần thiết để phù hợp với yêu cầu mới, đồng thời, tiếp tục tập trung xây dựng nguồn lực, và phát triển năng lực kinh doanh cốt lõi, góp phần không ngừng nâng cao vị thế, quy mô của Ngân hàng, và sớm hiện thực hóa mục tiêu trở thành Ngân hàng tốt nhất và Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam.
Mục tiêu dài hạn cụ thể  tới cuối năm 2018, tăng gần 75% tổng tài sản lên 275.656 tỷ đồng, tăng gần 3 lần dư nợ và tăng gấp đôi huy động. Tăng trưởng về huy động và cho vay sẽ tập trung nhiều ở phân khúc khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ; tăng tỷ lệ sinh lời ROA và ROE lên 1,65% và 18.22% vào cuối năm 2018; đẩy mạnh nâng cao chất lượng dịch vụ, nhằm tăng cơ cấu doanh thu từ thu nhập từ phí (13% lên 19%); đồng thời; tiếp tục duy trì chính sách cho vay thận trọng, quản lý chặt chất lượng tín dụng, đảm bảo nợ xấu duy trì ở mức dưới 3% tổng dư nợ.
Riêng trong năm 2014, với đánh giá tình hình thị trường tiếp tục tiềm ẩn nhiều thách thức khó khăn, mục tiêu kinh doanh đã được Đại hội thông qua với những chỉ tiêu tài chính cơ bản cụ thể: Tổng tài sản tăng 7,6% lên gần 171.000 tỉ đồng, huy động vốn tăng 16% (142,68 ngàn tỉ đồng);  dư nợ tín dụng tăng 13% (106,83 ngàn tỉ đồng); lợi nhuận trước thuế tăng 35% (1.181 tỉ đồng).
--------------------

Ngày 9/11 tại Trung tâm Hội nghị Riverside Palace (TP.HCM), Ngân hàng Thương mại Cổ phẩn Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã được trao tặng Giải thưởng Tin & Dùng Việt Nam năm 2013 cho "Dịch vụ khách hàng thẻ thanh toán và chăm sóc khách hàng sử dụng thẻ". Đây là năm thứ 3 liên tiếp, sản phẩm và dịch vụ của Techcombank được trao tặng giải thưởng này. 

Theo Techcombank, trong thời gian qua ngân hàng đã liên tục đầu tư, cải tiến, hiện đại hóa hệ thống ngân hàng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ thẻ, cung cấp các sản phẩm dịch vụ thẻ trên thị trường, bao gồm: thẻ thanh toán nội địa Fast-Access, thẻ thanh toán quốc tế (Techcombank Visa Debit) và thẻ tín dụng quốc tế (Techcombank Visa Credit) với đầy đủ các hạng từ hạng chuẩn, vàng tới hạng thẻ cao cấp bạch kim. 

Đồng thời Techcombank cũng là ngân hàng có hệ thống thẻ liên kết với nhiều tính năng, lợi ích nổi trội cho khách hàng với thẻ đồng thương hiệu Vietnam Airlines Techcombank Visa, thẻ MercedesCard Platinum, thẻ Vincom Loyalty Visa, thẻ Vip Vingroup Techcombank Visa... 

Tính đến thời điểm hiện tại, Techcombank có hơn 2,1 triệu khách hàng thẻ, trên 1300 máy ATM, 1000 đại lý thanh toán POS, đồng thời mở rộng liên kết hợp tác cùng khoảng 500 đơn vị chấp nhận thẻ với hơn 1000 điểm ưu đãi (được gọi là hệ thống Techcombank Smile) gồm các trung tâm mua sắm, du lịch, ăn uống, nghỉ dưỡng cao cấp để mang tới những ưu đãi tốt nhất cho khách hàng khi thanh toán bằng thẻ (chiết khấu, giảm giá, tặng quà), và vẫn liên tục cải tiến, mở rộng hệ thống nhằm tạo thuận lợi tối đa cho chủ thẻ. 

Ngoài ra, nhằm khuyến khích khách hàng sử dụng thẻ khi thanh toán, Techcombank còn không ngừng mở rộng, tăng cường các tiện ích, chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng như thông báo tin giao dịch qua SMS, email; dịch vụ hỗ trợ khác hàng 24/7; tính năng thanh toán trực tuyến. 

Đặc biệt, Techcombank thường xuyên tung ra các chương trình khuyến mãi hấp dẫn dành cho khách hàng như chiết khấu, giảm giá vé máy bay, hoàn tiền cho khách hàng khi mở mới, chi tiêu qua thẻ, các giải thưởng may mắn có giá trị lớn cuối chương trình hay các chương trình Techcombank Xsmile với ưu đãi, giảm giá đặc biệt khi mua sắm lên tới 50%. 

Tin & Dùng là chương trình bình chọn sản phẩm hàng hóa/dịch vụ trên thị trường Việt Nam được người tiêu dùng ưa chuộng và lựa chọn do Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Tư vấn Tiêu & Dùng tổ chức thường niên từ năm 2006. Đây là chương trình khảo sát lấy ý kiến người tiêu dùng qua hệ thống ấn phẩm của Thời báo Kinh tế Việt Nam, Tạp chí Tư vấn Tiêu & Dùng và thực hiện phiếu điều tra trực tiếp tại các siêu thị Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh. 

Chương trình cũng đưa ra đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm/dịch vụ, dịch vụ hậu mãi, sự lựa chọn và những dự định trong tương lai của người tiêu dùng về mua sắm và sử dụng sản phẩm/dịch vụ. 




H.S


Trong năm 2013, ngân hàng tiếp tục chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ, đồng thời duy trì chính sách cho vay thận trong và đảm bảo chất lượng tài sản.

Năm 2013, Techcombank cho biết đã đặc biệt chú trọng phát triển thị trường miền Nam, và hiện có tổng trên 300 chi nhánh, phòng giao dịch, 1.229 ATM. Số lượng khách hàng cá nhân đã lên tới gần 3,3 triệu, hỗ trợ cho huy động dân cư (số dư tại thời điểm 31/12/2013 là 119.978 tỷ đồng), tăng 7,64% so với năm 2012.

Trong khi đó, với việc duy trì chính sách cho vay thận trọng và chú trọng tới chất lượng tài sản, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng này năm qua ở mức khiêm tốn 2,95% (số dư tại thời điểm 31/12/2013 là 70.275 tỷ đồng), tỷ lệ cho vay trên huy động chỉ ở mức 57,31%.

“Đặc biệt chú trọng công tác quản lý và thu hồi nợ kết hợp với việc tiếp tục chính sách quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế đảm bảo tính minh bạch cao, mặc dù tình hình thị trường đang còn khó khăn, tỷ lệ nợ xấu của Techcombank đã được kiểm soát tốt ở mức 3,65%”, thông cáo của Techcombank viết. Theo đó, nợ xấu của ngân hàng này đã giảm rất mạnh, từ mức khoảng 5,9% quý 3/2013.

Cùng với tỷ lệ cho vay trên huy động thấp, tiếp tục là đặc điểm nổi bật trong hoạt động của Techcombank những năm gần đây là một tỷ lệ an toàn vốn (CAR) khá cao. Tỷ lệ CAR của ngân hàng này tại thời điểm 31/12/2013 là 14,03%, trong khi mức tối thiểu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước là 9%.
----------------
Gia đình ông Hồ Hùng Anh đang nắm gần 48,59 triệu cổ phiếu, tương đương hơn 5,47% vốn Techcombank. 

Masan hiện chính là cổ đông lớn nhất của ngân hàng này với hơn 19,5% vốn, tương đương hơn 173,15 triệu cổ phiếu. 

Tiếp đến là HSBC với hơn 19,41% vốn, tương đương hơn 172,35 triệu cổ phiếu.

ông Đăng Quang đang nắm hơn 2,85 triệu cổ phiếu, tương ứng hơn 0,32% vốn. 

Bà Hoàng Yến, vợ ông Quang, nắm hơn 6,94 triệu cổ phiếu tương đương 0,782% vốn Techcombank.

ông Nguyễn Đăng Quang - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Masan, đồng thời cũng là Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng quản trị Techcombank.

Ông Đăng Quang hiện chỉ nắm 10 cổ phiếu MSN của Masan, nhưng vợ ông là bà Nguyễn Hoàng Yến nắm tới 21,78 triệu cổ phiếu MSN, tương đương 2,96% vốn Masan. Bà Yến hiện cũng là Thành viên Hội đồng quản trị tập đoàn này.

Với việc nắm lượng lớn cổ phiếu MSN, bà Nguyễn Hoàng Yến cũng là một trong những người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam với gần 2.178 tỷ đồng.

Ngân hàng TMCP Đại Dương (Ocean Bank)

Tiếp theo giải thưởng “Ngân hàng bán lẻ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam 2012”, Ngân hàng TMCP Đại Dương (Ocean Bank), là một đơn vị thành viên của Tập Đoàn Đại Dương (Ocean Group), tiếp tục nhận được giải thưởng “Ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam 2013 - Best Retail Bank Vietnam 2013” do tạp chí Global Banking & Finance Review (Anh) tặng.

Để đạt được giải thưởng này, Ocean Bank đã đáp ứng tiêu chuẩn của một ngân hàng bán lẻ thành công. Điều đó được đánh giá dựa trên các tiêu chí: Có các sản phẩm đột phá, đúng nhu cầu khách hàng; hệ thống phân phối rộng khắp và dễ dàng tiếp cận; nhận biết thương hiệu cao và hình ảnh thương hiệu mạnh, được tin cậy và tạo ra nhiều cảm xúc tốt đẹp. Ngoài ra, Ocean Bank cũng thỏa mãn tiêu chí về hệ thống vận hành có công nghệ và hạ tầng, đáp ứng các giao dịch một cách nhanh chóng với độ ổn định cao.

Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác. Bao gồm:

Các công ty tài chính:  Tính đến đầu 2013, Việt Nam có 18  công ty tài chính trực thuộc các tổng công ty lớn
với tổng vốn điều lệ đạt hơn 18.000 tỷ đồng. Các công ty tài chính này  hoạt động  chủ yếu  nhằm để  dàn
xếp tài chính cho các tổng công ty mà nó trực thuộc. Ngoài ra trước năm 2003 còn có Công ty tài chính Sài
gòn là một đơn vị độc lập không thuộc bất kỳ một tổng công ty nào. Nhưng do những hạn chế của mô
hình này hiện đã chuyển thành Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á. Ngoài ra, hiện tại Tổng công ty cổ
phần Tài chính  Dầu khí  (PVFC) thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) cũng đang dàn xếp
các thỏa thuận để hợp nhất với Ngân hàng TMCP Phương Tây (WTB) và dự kiến sẽ có tên là Ngân hàng
Đại Chúng.

 1  Cty tài chính cổ phần Dệt may Việt Nam  500
2  Cty tài chính Cao su  1589
3  Cty TNHH một thành viên tài chính Bưu điện  500
4  Cty TNHH một thành viên tài chính Tàu thuỷ  1623
5  Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí  5000
6  Cty tài chính cổ phần Handico  350
7  Cty TNHH một thành viên tài chính Prudential Việt Nam (100% vốn nước ngoài)  615
8  Cty TNHH một thành viên tài chính Than - Khoáng sản  1000
9  Cty TNHH một thành viên tài chính Việt-SG (100% vốn nước ngoài)  550
10  Công ty TNHH một thành viên tài chính PPF Việt Nam (100% vốn nước ngoài)   500
11  Công ty tài chính cổ phần Sông Đà   500
12  Công ty tài chính cổ phần Xi Măng  604,9
13  Công ty tài chính cổ phần Điện Lực  2500
14  Công ty TNHH một thành viên tài chính Toyota Việt Nam  500
15  Công ty tài chính cổ phần Vinaconex-Viettel  1000
16  Công ty tài chính cổ phần Hoá chất  300
17  Công ty TNHH một thành viên tài chính Quốc tế Việt Nam JACCS

Các công ty cho thuê tài chính: Việt Nam có 12 công ty cho thuê tài chính với tổng vốn điều lệ khoảng 2.600
tỷ đồng  tính đến giữa 2011. Phần lớn các công ty cho thuê tài chính này là thuộc các ngân hàng thương
mại, chủ yếu là các ngân hàng quốc doanh. Trong đó, mỗi Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và
Ngân  hàng  Nông  nghiệp  và  Phát  triển  Nông  thôn  Việt  Nam  có  đến  2  công  ty  cho  thuê  tài  chính  trực
thuộc. Nhìn chung hoạt động thuê mua tài chính còn nhiều hạn chế. Tổng số cho thuê của các công ty
này có một phần không nhỏ là tài sản của các ngân hàng mẹ thuê.

1  Cty tài chính cổ phần Dệt may Việt Nam  500
2  Cty tài chính Cao su  1589
3  Cty TNHH một thành viên tài chính Bưu điện  500
4  Cty TNHH một thành viên tài chính Tàu thuỷ  1623
5  Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí  5000
6  Cty tài chính cổ phần Handico  350
7  Cty TNHH một thành viên tài chính Prudential Việt Nam (100% vốn nước ngoài)  615
8  Cty TNHH một thành viên tài chính Than - Khoáng sản  1000
9  Cty TNHH một thành viên tài chính Việt-SG (100% vốn nước ngoài)  550
10  Công ty TNHH một thành viên tài chính PPF Việt Nam (100% vốn nước ngoài)  500
11  Công ty tài chính cổ phần Sông Đà   500
12  Công ty tài chính cổ phần Xi Măng  604,9
13  Công ty tài chính cổ phần Điện Lực  2500
14  Công ty TNHH một thành viên tài chính Toyota Việt Nam  500
15  Công ty tài chính cổ phần Vinaconex-Viettel  1000
16  Công ty tài chính cổ phần Hoá chất  300
17  Công ty TNHH một thành viên tài chính Quốc tế Việt Nam JACCS

+ Các quỹ tín dụng: Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức,
cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để  hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu là
tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Tổ chức tín dụng hợp tác gồm ngân
hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân và các hình thức khác.

Đến đầu 2013, Việt Nam có 1 Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương và hơn 1.000 quỹ tín
dụng nhân dân cơ sở. Trong khi quy mô của Quỹ Tín dụng nhân dân trung ương tương đương với một
NHTM cổ phần lớn thì quy mô của các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở lại rất nhỏ.
Ngoài ra còn một số loại hình tổ chức tài chính khác hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng là các công
ty quản lý tài sản, các tổ chức cầm đồ…

Tất cả các tổ chức tín dụng hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam. Tổng dư nợ cho vay của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam đạt  trên 3 triệu tỷ
đồng, xấp xỉ 115% GDP. Tổng tài sản của các tổ chức tín dụng đạt gần 5,2 triệu tỷ đồng, với vốn tự có gần
420.000 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ khoảng 394.000 tỷ đồng.

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

Thị trường tiền tệ

Ngày 30/10, Ngân hàng Nhà nước tổ chức buổi tọa đàm nhìn lại việc điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2011 - 2013. Hầu hết các ý kiến tham gia đều hài lòng với những gì đã làm được.

“Mấy năm trước, lãi suất rất cao, doanh nghiệp vẫn vay rất nhiều. Doanh nghiệp uống thuốc độc giải khát và sau đó là nợ xấu tăng cao”, TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh doanh (BDI), một trong những thành viên ở bàn chủ tọa, gợi về một giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, bắt đầu từ năm khủng hoảng 2008.

“Thế bây giờ chúng ta có gì?”, ông Nghĩa đặt vấn đề.

Căn bệnh kinh niên đang trở lại?

Dẫn lại hình ảnh “doanh nghiệp uống thuốc độc giải khát” nói trên, ông Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh đến khó khăn nổi bật những năm trước là lạm phát, lãi suất quá cao; rồi sự nhiễu động của vàng và “đô” gây mất lòng tin trong nhân dân…

Và nay, chuyên gia này gạch đầu dòng những kết quả mà ông nhấn mạnh ở nỗ lực của chính sách tiền tệ: lạm phát đã về mức thấp 6 - 7%; dự trữ ngoại hối từ 7 tỷ USD tăng lên 27 - 28 tỷ USD; tỷ giá USD/VND ổn định; thị trường vàng ổn định, vàng đã được đẩy ra khỏi tài sản nợ của các ngân hàng, chấm dứt vàng hóa trong hệ thống; lãi suất đã giảm đáng kể và giữ được chênh lệch lãi suất giữa nội tệ với ngoại tệ để hạn chế sự chuyển đổi tài sản…

Tuy nhiên, ở tình hình vĩ mô, ông Nghĩa nói hình ảnh rằng, nếu Việt Nam đi trên một con đường thẳng, mệt và ngồi nghỉ rồi đi tiếp thì khác, nhưng đây lại rơi xuống một hố bùn, lên khỏi hố bùn đó là vấn đề rất khó khăn.

Để lên khỏi hố bùn, cần sự phối hợp tốt giữa các chính sách. Một lần nữa, mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ lại được TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh ở “căn bệnh kinh niên”, theo cách gọi của ông, có vẻ như đang trở lại.

“Tài khóa lấn át tiền tệ là bệnh kinh niên của Việt Nam. Những năm vừa rồi chúng ta tập trung chống lạm phát thì đỡ đi, nhưng bây giờ thì có vẻ lại phục hồi cái bệnh kinh niên này. Tức là nhiều vấn đề thuộc chính sách tài khóa lại giao cho chính sách tiền tệ phải làm”, ông Nghĩa nhìn nhận.

Và chuyên gia này dẫn ra các ví dụ cụ thể, như: hàng loạt các hỗ trợ cho 5 lĩnh vực ưu tiên lẽ ra của chính sách tài khóa thì lại qua ngân hàng, dùng tiền của ngân hàng trung ương; hay ví dụ tạm ứng cho ngân sách như để giải phóng mặt bằng quốc lộ 1, hay tạm ứng ngân sách đối ứng giải ngân vốn ODA, 30.000 tỷ đồng hỗ trợ vay mua nhà (“may mà giải ngân đang còn thấp”), rồi xử lý nợ xấu qua VAMC cũng có thể tới 100.000 tỷ đồng, hay một vài lĩnh vực khác “không thể nói ra”… đều qua Ngân hàng Nhà nước.

Rồi ông lo ngại: “Có một nguy cơ là chúng ta quay trở lại làm tái phát cái bệnh cũ, sự lấn át của chính sách tài khóa đối với chính sách tiền tệ và nguy cơ lạm phát trong dài hạn là đáng ngại nếu cứ như vậy”.

Xử được “tam giác bất ổn”

Có một điểm chung trong các ý kiến tham gia tọa đàm là cùng nhìn lại quãng khó khăn 2008 - 2011, gắn với những bất ổn trong tam giác quan hệ vàng - tỷ giá - cung tiền. “Vẽ mây nổi trăng”, qua đó để đánh giá những kết quả của chính sách tiền tệ những năm gần đây.

TS. Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, cho rằng, thành công của chính sách tiền tệ những năm gần đây là đã kiềm chế được lạm phát trong bối cảnh nới lỏng, qua giảm lãi suất và cung tiền tăng đáng kể trong năm 2012.

Chuyên gia này cũng đánh giá Ngân hàng Nhà nước đã thành công trong điều hành chính sách tỷ giá, mặc dù chính sách tiền tệ mở rộng với yếu tố cung tiền nhiều hơn khi tăng mạnh dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý phía sau đó có sự hỗ trợ của cán cân tổng thể thặng dư, giải ngân FDI và kiều hối tăng lên; sự sụt giảm của tài sản, đặc biệt là vàng đã không gây bất ổn đến tỷ giá.

“Mùa hè vừa rồi (cuối tháng 6 đầu tháng 7 - PV) có áp lực xuất hiện, nhưng với khả năng can thiệp của Ngân hàng Nhà nước thì đã bình ổn. Đó là thời điểm quan trọng để củng cố niềm tin vào cam kết giữ ổn định”, TS. Thành nói.

Có những đánh giá tương đồng, TS. Tô Kim Ngọc, Phó giám đốc Học viện Ngân hàng, nhấn mạnh đến việc Ngân hàng Nhà nước đã chủ động xử lý được mối quan hệ tam giác giữa vàng - tỷ giá - cung tiền; trong đó nhà điều hành thể hiện quyết tâm tách sự chi phối của vàng đối với chính sách tiền tệ.

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước đã bóc được vàng ra khỏi hệ thống các tổ chức tín dụng, thay vì sự chi phối lớn của nó trong bảng cân đối tài sản trước đây. Điều này được bà Ngọc nhấn mạnh ở ý nghĩa, ngoài bóc rủi ro vốn vàng, yếu tố gây nhiễu và nhiều ảnh hưởng từ vàng đối với cung tiền đã được hạn chế. Cung tiền chủ động hơn, việc điều hành chính sách tiền tệ sát thực và hiệu quả hơn, nhất là gắn với mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Ở mối quan hệ khác, Phó giám đốc Học viện Ngân hàng, xem là thành công của Ngân hàng Nhà nước khi phối hợp được việc điều hành lãi suất với tỷ giá.

TS. Ngọc cho biết, trước đây mối quan hệ này “không dám nói” vì tỷ giá chi phối lãi suất khá nhiều, do tình trạng đô la hóa cao, do cấu trúc tiền gửi ngoại tệ tại các ngân hàng lỏng. Những biến động của tỷ giá, từng thường trực và căng thẳng những năm 2008 - 2011, đều dễ tạo sự dịch chuyển, gây mất cân đối cấu trúc tiền gửi và tác động đến lãi suất. Sâu xa hơn, chuyên gia này cho rằng nó có thể “tiêu hủy mục tiêu và sự chủ động trong điều hành chính sách”.

“Rất may, đã nắm được cương”

Là Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nhưng góc nhìn của TS. Trương Văn Phước lại nghiêng nhiều hơn từ phía ngân hàng thương mại (môi trường ông tham gia những năm qua).

“Có thể xem thị trường tiền tệ của chúng ta là một con ngựa bất kham, khi xẩy ra cuộc khủng hoảng năm 2008. Giai đoạn 2008 - 2011 phải nói là rất thực sự khó khăn. Cả hệ thống chính trị phải vào cuộc để kéo nền kinh tế ra khỏi tình trạng lạm phát, mà người ta vẫn nói “Xin lỗi, chịu không nổi!”. Lạm phát cao tới mức 17 - 18% dẫn tới lãi suất trên 20% thì chịu sao nổi”, ông Phước đặt vấn đề.

“Nay, nói gì thì nói, nền kinh tế cũng đã trở lại một mặt bằng tương đối, dĩ nhiên vẫn còn nhiều chuyện. Nhưng đến hôm nay lạm phát được như thế, tỷ giá được như thế, lãi suất được như thế, mình có thể nói như thế cũng là được rồi”, ông Phước nói thêm.

Trả lời câu hỏi Ngân hàng Nhà nước đã làm được gì? Ông Phước ví von: Ngân hàng Nhà nước đã kìm được dây cương của con ngựa tiền tệ bất kham của những năm khủng hoảng.

Từ góc độ của ngân hàng thương mại, ông cho biết đã từng rất lo rằng và dự tính phải mất thời gian dài mới tìm lại được dây cương của con ngựa bất kham đó.

“Rất may, chúng ta đã tìm lại được, tương đối nhanh và tương đối sớm. Đến giờ phút này, Ngân hàng Nhà nước đã nắm và kìm được cương con ngựa tiền tệ, kéo nó trở về quy đạo an toàn, nhưng cũng phải nhìn ngang ngó dọc không phải chủ quan”, TS. Trương Văn Phước nói.

Là chuyên gia về tỷ giá, ông Phước nhìn nhận ổn định tỷ giá thời gian qua là một thành công, nhưng không phải tự nhiên mà có. Bởi lẽ, “có cái hay không bằng hên, nhưng có những cái tự thân Ngân hàng Nhà nước đã nhìn thấy vấn đề và đã gỡ được những kíp nổ của tỷ giá sớm”.

Kíp nổ thứ nhất được gỡ, theo chuyên gia này là từ vàng. Thứ hai, các chính sách chống đô la hóa đã phát huy tác dụng tốt, nếu không tốt thì tỷ giá không được như thời gian qua.

“Bằng những biện pháp hành chính, đương nhiên nhiều khi nó cũng hơi khắc nghiệt, nhưng nó làm cho tiền “đô” bớt hấp dẫn so với tiền đồng. Do tăng trưởng tín dụng thấp, trong đó có tăng trưởng tín dụng ngoại tệ thấp làm cho cầu về ngoại tệ thấp xuống”, ông Phước lý giải thêm.

“Tuy nhiên, những rủi ro của thị trường ngoại hối và tỷ giá vẫn còn đó. Chúng ta không được ngủ quên trên chiến thắng của tỷ giá. Trên đồ thị tỷ giá cuối tháng 6 đầu tháng 7 nó nhảy cóc một cái, đó là một lời cảnh báo.

Tôi đi Yên Tử, thấy có hai cách để leo lên chùa Đồng. Một cách là đi từng bước. Một cách thì thấy anh kia đứng nghỉ, rồi nhờ mấy anh gánh một cái đi lên đó. Cái này cho ta hình ảnh của bước đi tỷ giá”, chuyên gia này ngụ ý so sánh về việc điều chỉnh tỷ giá theo cách trườn bò với cách nghỉ lâu lâu rồi giật một bước mạnh…

NHLD Indovina

Ngân hàng TNHH Indovina (IVB) thông báo hoàn tất thủ tục tăng vốn điều lệ từ 165 triệu USD lên 193 triệu USD.

Hai thành viên là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam và Ngân hàng Cathay United - Đài Loan đã hoàn tất góp vốn tăng thêm theo tỷ lệ 50:50. IVB dành 70% trên tổng dư nợ tín dụng cho khách hàng Việt Nam, còn lại cho khách hàng nước ngoài, chủ yếu là Đài Loan.
Lãi suất cho vay của IVB hiện đang áp dụng đối với tiền đồng là 8 - 12%/năm, còn ngoại tệ là 2,5 - 6%/năm. Tỷ lệ nợ xấu hiện nay của IVB là 1,59%.

NHTMCP Quốc Tế (VIB)

Bên cạnh dịch vụ chu đáo và chú ý đến những nhu cầu nhỏ nhất của khách hàng, VIB còn là một trong số ít ngân hàng áp dụng mức vay vô cùng ưu đãi dành cho các khách hàng. Anh Luân nhận xét: “So với mặt bằng chung, lãi suất vay của ngân hàng VIB khá cạnh tranh, chỉ với 9,99% khoản vay/năm”. Bên cạnh đó, quản lý khách hàng tại VIB đều có kiến thức chuyên môn vững về tài chính, có thể tư vấn cho khách hàng về việc quản lý kế hoạch tài chính, như nên vay bao nhiêu, cân đối thời gian trả như thế nào cho phù hợp với khả năng.
Dịch vụ cho vay của VIB cũng được đánh giá là minh bạch. Vì  ngân hàng luôn niêm yết trần lãi suất cho vay tại tất cả các chi nhánh, trên website http://vib.com.vn/http://vaychinhdang.vib.com.vn và qua TTDVKH 24/7. Khách hàng không tốn bất kỳ một khoản phí nào ngoài các loại phí đã được thống nhất trong hợp đồng. Đồng thời, quy trình được khách hàng nhận xét là đơn giản, giải ngân nhanh chóng vì hồ sơ hoàn chỉnh đến khi giải ngân chỉ trong 2-3 ngày. Với nguồn vốn vay thành công tại VIB, cửa hàng anh Luân đã tăng được nguồn hàng dự trữ, từ đó giúp tăng khả năng cung ứng cho khách hàng. Cùng một lúc cửa hàng có thể phục vụ 5-7 ngôi nhà (trước đây chỉ phục vụ được 3 ngôi nhà). Anh cũng trích một phần trong lợi nhuận mới để tiến hành tu sửa cửa hàng khang trang và tiện nghi hơn nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tại cửa hàng. Việc này góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh cho cửa hàng của anh Luân so với các cửa hàng khác. Với đà tăng trưởng nay, mùa kinh doanh Tết của anh Luân ước tính sẽ thu được lợi nhuận tăng lên ít nhất 17% so với năm 2012. Chính sự thuận lợi và dễ dàng khi vay tại VIB đã góp phần không nhỏ vào việc thành công sắp tới của anh Luân. (Đình Bảo)

Mekong Capital

Hai Quỹ đầu tư Mekong Enterprise Fund I (MEF I) và Mekong Enterprise Fund II (MEF II) thuộc Mekong Capital vừa thực hiện thoái vốn toàn bộ 29,7% cổ phần tại Công ty sản xuất dây điện từ Ngô Han. Giá trị thu về là 101,2 tỉ đồng, người mua lại số cổ phần này là bà Ngô Thị Thông, Chủ tịch HĐQT Công ty Ngô Han.

Trước đó vào tháng 9.2013, các quỹ đầu tư của Mekong Capital cũng thoái vốn khỏi Công ty CP MK Smart (công ty duy nhất sản xuất các sản phẩm thẻ ngân hàng, thẻ SIM điện thoại tại VN) và Công ty Thế giới số Digiworld (phân phối thiết bị tin học). Sau hơn 5 năm đầu tư, đây là thời điểm Quỹ này tiến hành thoái vốn hàng loạt. Trả lời về chiến lược đầu tư sắp tới, ông Peter Goodson, Chủ tịch Ban cố vấn của Công ty Quản lý quỹ Mekong Capital, khẳng định: “Chúng tôi nhắm đến những DN Việt có vốn tầm 10-15 triệu USD, nếu có tiềm năng phát triển gấp 5-7 lần trong vòng 5-7 năm tới thì chúng tôi sẽ xem xét đầu tư”, ông Peter Goodson nói.
Tháng 3.2013, MEF II cũng đã hoàn tất việc thoái 6,7% trong khoản đầu tư 32,5% của Quỹ vào Công ty Thegioididong với giá cao gấp 11 lần giá trị đầu tư ban đầu vào năm 2007. Ông Chris Freaud cho biết: “Khoản đầu tư vào Thegioididong là khoản đầu tư thành công lớn của chúng tôi. Từ 7 cửa hàng tại thời điểm chúng tôi đầu tư, hiện Thegioididong đã có trên 220 cửa hàng trên toàn quốc”. Mekong Capital cũng đang quản lý quỹ Vietnam Azalea Fund, hiện đang đầu tư vào các công ty PNJ, Nam Long Group, Traphaco, Bảo vệ thực vật An Giang...

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank)

Được thành lập vào năm 1993 với vốn điều lệ ban đầu là 10 tỷ đồng. Đến nay, vốn điều lệ Southern Bank đã là 4.000 tỷ đồng, mạng lưới hoạt động 141 chi nhánh, phòng giao dịch và các đơn vị trực thuộc trên toàn quốc; tổng tài sản đạt hơn 75.269 tỷ đồng.

Gần 1.000 tỷ đồng nợ có khả năng mất vốn

(Dân trí) - Sau 9 tháng, mặc dù tăng trưởng tín dụng âm song tổng nợ xấu của Southern Bank vẫn tăng mạnh trên 25%, trong khi tổng tài sản bốc hơi hơn 500 tỷ đồng, tiền mặt giảm 660 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu ở mức cao, chiếm 3,79% tổng dư nợ tín dụng.

Southern Bank nằm trong diện phải bán nợ xấu cho VAMC.
Southern Bank nằm trong diện phải bán nợ xấu cho VAMC.

Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank) vừa công bố Báo cáo tài chính hợp nhất quý III với kết quả lãi 36 tỷ đồng, chỉ bằng 29% so với cùng kỳ.

Báo cáo quản trị năm 2013 của Ngân hàng Phương Nam (Southern Bank) mới công bố cho thấy, tỷ lệ sở hữu cổ phần của các thành viên trong gia đình ông Trầm Bê đã nắm là 20,81% vốn của ngân hàng. Đang vi phạm Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 về tỷ lệ tối đa cá nhân hoặc gia đình năm giữ cổ phiếu trong một công ty cổ phần, có hiệu lực thi hành từ 1/1/2011.

“một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng” và tại Khoản 3 Điều 55 là “cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng”.


Ông Trầm Bê đang là cổ đông lớn nhất với tỷ lệ sở hữu 8,36% vốn điều lệ (334,6 triệu cổ phần), con trai Trầm Trọng Ngân - Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) cũng giữ 4,42% vốn điều lệ (176,8 triệu cổ phần), con gái ông Trầm Bê là Trầm Thuyết Kiều sở hữu 7,36% (294,2 triệu cổ phần), chồng của Trầm Thuyết Kiều là Lê Trọng Trí cũng sở hữu 0,67% vốn của ngân hàng.

Tuy nhiên, trong Điều 56 của Luật các tổ chức tín dụng có quy định, “Cổ đông là cá nhân, cổ đông là tổ chức có người đại diện là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng không được chuyển nhượng cổ phần của mình trong thời gian đảm nhiệm chức vụ.” 
Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận sau thuế của Southern Bank đạt 226,4 tỷ đồng, giảm 7,6% so với cùng kỳ 9 tháng/2012.

Điểm sáng trong kết quả kinh doanh quý III năm nay của Southern Bank là chi phí lãi và các chi phí tương tự giảm mạnh 22,4% đã giúp thu nhập lãi thuần đạt mức 180,5 tỷ đồng, đảo ngược từ mức âm 204,2 tỷ đồng của cùng kỳ năm ngoái, mặc dù thu nhập lãi chỉ bằng 93% cùng kỳ.

Tuy nhiên ở những mảng kinh doanh, hoạt động khác, kết quả thu được của ngân hàng trong quý III năm nay lại giảm mạnh so với cùng kỳ.

Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ giảm 9%, hoạt động kinh doanh ngoại hối ghi nhận lỗ thuần 7,5 tỷ đồng trong khi cùng kỳ, mảng này lãi thuận gần 8 tỷ đồng.

Mua bán chứng khoán đầu tư lỗ thuần 44,3 tỷ đồng so mức lãi lớn 475,9 tỷ đồng của cùng kỳ quý III/2012. Lãi thuần từ hoạt động khác cũng giảm nhẹ 4%. Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phầm giảm 9,3%.

Trong khi đó, chi phí hoạt động lại tăng 8,5% so với cùng kỳ. Từ đó khiến, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng chỉ đạt 43 tỷ đồng, giảm mạnh gần 80% so với quý III/2012.

Dữ liệu tại thuyết minh BCTC của Southern Bank cũng cho thấy, so với đầu năm, mặc dù tăng trưởng tín dụng âm 0,22% song nợ xấu của ngân hàng lại tăng. Tổng nợ xấu tăng 25,3% trong đó nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) tăng gần 22%, nợ nghi ngờ tăng gần 30% và nợ có khả năng mất vốn tăng 25,4% so với đầu năm.

Nợ có khả năng mất vốn của Southern Bank cuối tháng 9 đã lên gần 1.000 tỷ đồng, chiếm 60,5% tổng nợ xấu.

Tỉ lệ nợ xấu đã tăng lên 3,79% tổng dư nợ từ mức 3,02% hồi đầu năm và nằm trong diện buộc phải bán nợ xấu cho Công ty Quản lý tài sản Việt Nam (VAMC).

Tuy nhiên, so với cùng kỳ 2012, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong quý III/2013 chỉ ở mức 1,5 tỷ đồng, bằng 2,2%. 

Southern Bank hiện có 142 đơn vị với 36 chi nhánh, 88 phòng giao dịch, 5 điểm giao dịch, 10 quỹ tiết kiệm và 1 công ty trực thuộc. Tại thời điểm 30/9, ngân hàng có 2.960 cán bộ, công nhân viên.
Southern Bank nằm trong diện phải bán nợ xấu cho VAMC.


Tổng tài sản của ngân hàng giảm 511,3 tỷ đồng, tiền mặt giảm 660,8 tỷ đồng sau 9 tháng.

Mai Chi

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

Ngân hàng định giá... trên trời

Dantri.com.vn - 17/09/2013 

Theo hồ sơ sự việc, LienVietPostBank đã định giá bất động sản của bà Hoàng Thị Sau lên tới hơn 11 tỷ đồng, trong khi theo tính toán của chủ nhân của chiếc "sổ đỏ" thì mảnh đất này chỉ có giá khoảng 7,5 tỷ và không dễ bán.


Vụ

Số 109 đường Ngọc Lâm - Ngọc Lâm - Long Biên (Hà Nội) địa chỉ đăng ký của Công ty Đại Gia là một căn nhà cấp 4 lụp xụp không biển hiệu.

Định giá "thoáng"?

Liên quan đến việc vợ chồng Giám đốc Công ty Đại Gia đột nhiên "mất tích" sau khi gán "sổ đỏ" của gia đình bà Hoàng Thị Sau vào ngân hàng LienVietPostBank CN Thăng Long, PV Dân trí đã tìm hiểu và phát hiện thêm nhiều điểm bất thường cần được làm rõ, trong đó không thể không nhắc đến sự xuất hiện của các cán bộ ngân hàng.

Theo Biên bản định giá nhà đất ghi ký ngày 23/12/2012 giữa 3 bên Ngân hàng LienVietPostBank chi nhánh Thăng Long, Công ty Đại Gia, gia đình bà Sau thì mảnh đất của gia đình bà Sau có diện tích 753m2 là đất ở tại nông thôn tại xóm Nhồi Trên, xã Cổ Loa, Đông Anh (Hà Nội). Ngõ ngách rộng trung bình 2,5m, dài 15m. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sô BD613061.

Biên bản ghi rõ: "Bất động sản nằm trong khu vực dân cư khá đông, gần trường học, chợ và các trung tâm hành chính tại Cổ Loa. Từ bất động sản có thể di chuyển ra nhiều con đường khác nhau, các phương tiện giao thông ô tô, xe máy di chuyển vào bất dộng sản dễ dàng".

Vì vậy, phía ngân hàng định giá nhà đất của gia đình bà Sau theo giá thị trường là 15 triệu đồng/m2 tương đương tổng giá trị gần 11,3 tỷ đồng. Từ đó, quy ra giá trị tài sản đảm bảo cho Công ty Đại Gia là hơn 7,1 tỷ đồng.

Biên bản định giá nhà đất của LienVietPostBank chi nhánh Thăng Long với gia đình bà Hoàng Thị Sau.

Biên bản định giá nhà đất của LienVietPostBank chi nhánh Thăng Long với gia đình bà Hoàng Thị Sau.

Tuy nhiên, anh Hoàng Gia Long, con trai bà Sau cho rằng có dấu hiệu bất thường trong việc trong việc định giá tài sản mảnh đất của gia đình anh. Anh Long cho biết thời điểm định giá tài sản thửa đất của gia đình anh với diện tích 753m2, khi đó giá thị trường của các mảnh đất tương đương chỉ khoảng 10 triệu đồng/m2 nhưng 3 cán bộ Ngân hàng gồm: ông Lưu Hoài Nam, bà Trần Thị Định Yên và ông Trần Vũ Việt lại đưa ra kết quả định giá đến 15 triệu đồng/m2 đất.

Hơn nữa, bà Sau cho biết, mảnh đất của gia đình bà nằm lọt thỏm giữa khu dân cư nên không có đường vào ra. 2 con đường mà hiện tại gia đình bà đang sử dụng chỉ là 2 con đường mượn từ diện tích đất hợp pháp của các gia đình lân cận. Vì vậy, theo giá thị trường, mảnh đất gia đình bà có giá trị rất thấp.

Ngoài ra, việc định giá các tài sản đảm bảo theo hợp đồng hạn mức tín dụng ký giữa LienVietPostBank và Công ty Đại Gia hồi tháng 10/2012 cũng có nhiều điểm khó hiểu. Theo đó, 6 "sổ đỏ" cùng lô hàng inox loại một mà Công ty này đem thế chấp được định giá đủ để cấp hạn mức tín dụng 30 tỷ đồng.

Tuy nhiên, đại diện LienVietPostBank cho biết đến nay Công ty này chưa vay hết hạn mức này, nhưng số tài sản nói trên đã không còn đủ đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Lý giải cho điều này, ngân hàng cho biết thời điểm công ty vay vốn là năm 2012 với tài sản thế chấp là bất động sản và inox, đến thời điểm hiện tại, giá bất động sản và inox giảm.

Chính vì thế, ngân hàng đã có văn bản yêu cầu Công ty Đại Gia bổ sung thêm tài sản đảm bảo, và dẫn đến việc bà Sau bị lừa "chết thay" cho Công ty Đại Gia.

Cán bộ ngân hàng xưng là người nhà "đại gia"?

Bà Sau cho biết, sau khi "dụ dỗ" được gia đình bà đồng ý đưa "sổ đỏ" để Công ty Đại Gia vay giúp 500 triệu, ông giám đốc Hoàng Đức Dũng nhanh chóng thông báo có cán bộ ngân hàng về thẩm định tài sản. Chị Đào Thị Hải, con dâu bà Sau cho biết trước ngày ký kết bản Hợp đồng thế chấp, chị có tiếp đón 4 người về gia đình chị.

"Vì ông Dũng gọi điện thông báo trước có phía ngân hàng về thẩm định tài sản nên tôi cũng nghĩ 4 người là cán bộ ngân hàng. Tuy nhiên, khi tôi hỏi thì họ giới thiệu ở chỗ bà Trịnh Thị Kim Hà (vợ ông Dũng) chứ cũng không giới thiệu là cán bộ ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) chi nhánh Thăng Long. Sau khoảng 10 phút xem qua khu đất của gia đình tôi, 4 người ra về.

Biên bản định giá nhà đất của LienVietPostBank chi nhánh Thăng Long với gia đình bà Hoàng Thị Sau.

Tuy nhiên theo tìm hiểu của PV, nơi công ty Đại Gia thuê làm trụ sở lại là số 67, phố Phú Viên, phường Bồ Đề - Long Biên (Hà Nội) nhưng cũng đã đóng cửa.

Ngày 8/1/2013, ông Dũng cùng các cán bộ này về gia đình tôi ký kết bản Hợp đồng thế chấp, tôi vẫn không được biết đó là cán bộ ngân hàng nào. Chỉ khi tôi hỏi bà Trần Thị Định Yên mới được biết đó là cán bộ ngân hàng LienVietPostBank chi nhánh Thăng Long", chị Hải cho biết.

Bà Sau cho biết, lúc ký kết Hợp đồng thế chấp, đại diện phía ngân hàng cũng không hề giải thích cho bà biết cặn kẽ là "sổ đỏ" của tôi đưa vào ngân hàng không phải để vay tiền cho gia đình bà.

Theo phản ánh của gia đình bà Sau, sau khi ký kết bản Hợp đồng thế chấp, toàn bộ hợp đồng cũng như các giấy tờ liên quan, phía ngân hàng mang đi. Sau đó 2 ngày, khi chị Hải gọi điện thoại đề nghị với bà Trần Thị Định Yên được cung cấp một bộ hồ sơ thì khoảng 5 ngày sau chị Hải đến ngân hàng LienVietPostBank chi nhánh Thăng Long mới được cung cấp bản Hợp đồng thế chấp, Biên bản giao nhận tài sản và Biên bản định giá nhà, đất.

Còn theo phía ngân hàng, "sổ đỏ" của gia đình bà Sau được Công ty Đại Gia đưa vào thế chấp nhằm đảm bảo thêm cho tài sản thế chấp cũ hoặc giải ngân thêm vốn vay. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, ngân hàng vẫn chưa giải ngân thêm tiền cho Công ty Đại Gia.

Về phản ánh của bà Sau rằng đại diện ngân hàng đã không giải thích cặn kẽ cho bà biết là "sổ đỏ" đưa vào ngân hàng không phải để vay tiền cho gia đình bà, phía Ngân hàng LienvietPostBank cho biết cán bộ ngân hàng nhất thiết phải giải thích cho người dân hiểu trước khi đưa tài sản vào thế chấp cho một công ty khác nhưng có có nhiều hình thức chứ không nhất thiết phải ra văn bản giải thích.

Trước đó, một vụ việc tương tự đã xảy ra ở TX Từ Sơn (Bắc Ninh), khi "đại gia" thép Hương Thịnh đã hứa hẹn để đưa 11 "sổ đỏ" của 10 hộ dân vào thế chấp cho khoản vay đã trở thành nợ xấu của công ty tại Sacombank CN Bắc Ninh. Sau khi báo điện tử Dân trí có loạt bài điều tra về vụ việc, Sacombank CN Bắc Ninh và Công ty Hương Thịnh đã ký biên bản trả lại 11 "sổ đỏ" cho các hộ dân nói trên.

Về vụ việc này, các luật sư nhận định có dấu hiệu "lừa đảo chiếm đoạt tài sản", cũng như nhiều dấu hiệu sai phạm khác trong nghiệp vụ thẩm định, quản lý của ngân hàng.

Dân trí sẽ tiếp tục thông tin sự việc đến bạn đọc.

Anh Thế