Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

Công ty Quản lý tài sản (VAMC)

Sáng 26/7/2013, Công ty TNHN một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) chính thức khai trương hoạt động. Trước đó VAMC dự định đi vào hoạt động từ tháng 5.2013. Như vậy, VMAC vận hành chậm so với kế hoạch ban đầu hơn 2 tháng.

Theo bố cáo thành lập, VAMC có vốn điều lệ 500 tỷ đồng, trụ sở chính đặt tại số 22 Hàng Vôi, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, trong thời gian từ nay đến cuối năm 2013, địa chỉ giao dịch của VAMC đặt tại Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng (tại lô E – Vườn Đào – phường Phú Thượng – quận Tây Hồ - thành phố Hà Nội).

Người đại diện theo pháp luật của VAMC là ông Đặng Thanh Bình, Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Theo giấy phép, VAMC được thực hiện các hoạt động sau:
a. Mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng;
b. Thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm;
c. Cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần của khách hàng vay;
d. Đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê tài sả nbảo đảm đã được VAMC thu nợ;
e. Quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm có liên quan đến khoản nợ xấu, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ liên quan đến khoản nợ xấu và bảo đảm tiền vay;
f. Tư vấn, môi giới mua, bán nợ và tài sản;
g. Đầu tư tài chính, góp vốn, mua cổ phần;
h. Tổchứcbán đấu giá tài sản;
i. Bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của tổ chức tín dụng;
j. Hoạt động khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của VAMC sau khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép.
k. VAMC được ủy quyền cho các tổ chức tín dụng bán nợ thực hiện các hoạt động được qui định tại điểm b, c, d, e.

Trong đó, mua nợ xấu là chức năng quan trọng nhất. Theo chức năng này, VAMC mua các khoản nợ xấu của khách hàng rồi xử lý bằngcác chức năng khác.  

Theo Thống đốc Nguyễn Văn Bình, NHNN đã chuẩn bị xong 4 thông tư hướng dẫn và VAMC đã làm việc với các ngân hàng (NH) thương mại để mua lại các khoản nợ qua hình thức phát hành trái phiếu đặc biệt. Sau đó, các NH được sử dụng trái phiếu này để thế chấp nhận tái cấp vốn từ NHNN.

Tuy nhiên, do theo quy định hiện hành Thống đốc chỉ được quyết định mức lãi suất tái cấp vốn thông thường, nên sắp tới NHNN phải xin Thủ tướng phê duyệt mức lãi suất tái cấp vốn ở mức thấp hơn để các NH có điều kiện mở rộng tín dụng, cho vay tới các doanh nghiệp.

Từ ngày 6-9 đến 10-9-2013, NHNN liên tiêp công bố 3 Thông tư 19, 20, 21 về cơ chế hoạt động cho Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Dưới đây là một số nội dung cơ bản của các Thông tư này:
Thông tư 19/2013/TT-NHNN: quy định trái phiếu đặc biệt dùng mua nợ xấu do VAMC phát hành dưới hình thức chứng chỉ ghi danh, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử có định danh.
  • Một trái phiếu được phát hành tương ứng với một khoản nợ xấu được mua, bán và mệnh giá có giá trị bằng giá mua của các khoản nợ xấu. Các TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ 3% so với tổng dư nợ trở lên phải bán nợ cho VAMC.
  • Trường hợp không bán nợ, NHNN xem xét áp dụng các biện pháp kiểm soát. Trên cơ sở thanh tra, định giá, kiểm toán, NHNN yêu cầu TCTD phải bán nợ cho VAMC. Sau khi mua nợ xấu, VAMC xem xét, điều chỉnh lãi suất đang áp dụng với khoản nợ xấu đã mua về mức lãi suất hợp lý, phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên, khách hàng vay phải có phương án trả nợ khả thi.
  • VAMC bán nợ xấu đã mua theo hình thức đấu giá hoặc chào giá cạnh tranh với sự tham gia của ít nhất 3 bên mua không có liên quan với nhau. Trường hợp không thể đấu giá, chào giá cạnh tranh thì VAMC bán khoản nợ xấu trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp với bên mua nợ.
  • VAMC cũng có thể bán nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt hoặc chuyển khoản nợ xấu đã mua bằng trái phiếu thành vốn điều lệ, vốn cổ phần tại các doanh nghiệp mua nợ. Tuy nhiên, thông tư quy định, tổng mức đầu tư, cung cấp tài chính và bảo lãnh của VAMC đối với một khách hàng không vượt quá 50% vốn điều lệ củaVAMC(không quá 250 tỉ đồng).
Thông tư số 20/2013/TT-NHNN: quy định về cho vay tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của VAMC.
  • Theo nội dung thông tư, NHNN xem xét và quyết định tái cấp vốn khi TCTD đáp ứng đủ các điều kiện. Mức tái cấp vốn đối với TCTD trên cơ sở mệnh giá trái phiếu đặc biệt do Thống đốc NHNN quyết định căn cứ vào mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, kết quả trích lập dự phòng rủi ro đối với trái phiếu đặc biệt và kết quả xử lý nợ xấu nhưng không vượt quá 70% so với mệnh giá trái phiếu đặc biệt.
  • Lãi suất tái cấp vốn đối với TCTD do Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ; Lãi suất tái cấp vốn quá hạn bằng 150% lãi suất tái cấp vốn ghi trên hợp đồng tín dụng giữa NHNN và TCTD. Thời hạn tái cấp vốn dưới 12 tháng nhưng không vượt quá thời hạn còn lại của trái phiếu đặc biệt.
  • NHNN xem xét, quyết định gia hạn tái cấp vốn đối với TCTD, thời gian gia hạn mỗi lần không vượt quá thời hạn tái cấp vốn lần đầu của khoản tái cấp vốn đó.
  • Thông tư cũng quy định cụ thể về trình tự xem xét tái cấp vốn hoặc gia hạn tái cấp vốn; Trả nợ vay tái cấp vốn; Xử lý đối với việc TCTD không trả nợ đúng hạn; Trách nhiệm của TCTD, VAMC và trách nhiệm của các đơn vị thuộc NHNN.
Thông tư 21/2013/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại.
  • Kể từ ngày 23-10, để được thành lập chi nhánh ở trong nước, các ngân hàng phải đáp ứng một số điều kiện như thời gian hoạt động từ 12 tháng trở lên; hoạt động kinh doanh có lãi theo báo cáo tài chính được kiểm toán; có tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ không được vượt quá 3%.
  • Ngân hàng được thành lập tối đa 10 chi nhánh tại mỗi khu vực nội thành Hà Nội hoặc nội thành TP.HCM. Các ngân hàng có hoạt động dưới 12 tháng chỉ được phép thành lập không quá 3 chi nhánh và các chi nhánh này không được thành lập trên cùng một địa bàn tỉnh, thành phố. Đối với các ngân hàng hoạt động từ 12 tháng trở lên được thành lập không quá 5 chi nhánh trong một năm tài chính.
  • Thông tư 21 đồng thời quy định, số lượng chi nhánh được thành lập của ngân hàng thương mại phải đảm bảo yêu cầu: 300 tỷ đồng x N1 + 50 tỷ đồng x N2 < C (Trong đó: C là giá trị thực của vốn điều lệ của NHTM đến thời điểm đề nghị; N1 là số lượng chi nhánh đã thành lập và đề nghị thành lập tại khu vực nội thành TP Hà Nội và khu vực nội thành TP Hồ Chí Minh; N2 là số lượng chi nhánh đã thành lập và đề nghị thành lập tại khu vực ngoại thành TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố khác trực thuộc Trung ương). Quy định này cao hơn rất nhiều so với trước đây là chỉ cần 100 tỷ x N1 + 50 tỷ x N2 < C.

 

Theo một chuyên gia ngân hàng, các ngân hàng bán nợ cho VAMC được 3 điều lợi, đó là có thể đưa nợ xấu ra ngoài bảng cân đối kế toán, có cơ hội vay được tiền tái cấp vốn, và chỉ phải trích lập 20%/năm cho giá trị nợ xấu thay vì có thể lên đến 100%. Vì vậy, với các ngân hàng hiện cho rằng chưa muốn bán nợ cho VAMC thì cũng không có nghĩa họ sẽ không bán trong tương lai.

Thêm vào đó, NHNN cũng đã có quy định các ngân hàng có nợ xấu trên 3% sẽ phải bán nợ cho công ty này. Do vậy sớm hay muộn thì những ngân hàng thuộc diện trên cũng buộc phải bán cho VAMC.

Khi nợ được đổi chủ sang VAMC, tổ chức tín dụng bớt đi một phần gánh nặng là chi phí trích lập dự phòng, lại có ngay trái phiếu đặc biệt để tái tạo vốn. Theo quy định, nợ xấu thuộc nhóm 3, 4 và 5, tương ứng với các mức phải trích lập dự phòng là 20%, 50% và 100%.

Cho đến nay, chưa có dữ liệu cụ thể phân nhóm số nợ VAMC đã mua cơ cấu gồm những nhóm nào, nhưng chắc chắn một phần lớn chi phí đáng lẽ các tổ chức tín dụng phải dùng để trích lập ngay theo đúng quy định hiện hành thì lại được giãn ra trong 5 năm. Những năm tới, họ tiếp tục dùng 20% lợi nhuận để trích lập dần dần cho đủ 100%. Nói "cho vay tương lai" là nằm ở đây, hay lợi nhuận ngân hàng hiện nay một phần "vay mượn" của tương lai.

Giả sử, một ngân hàng bán được cho VAMC 1.000 tỷ đồng nợ xấu, thuộc nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Theo quy định, ngân hàng phải trích lập dự phòng 100% cho khoản nợ này. Tuy nhiên, sau khi bán cho VAMC, họ đưa ra ngoại bảng và chỉ phải trích lập 20% trong năm nay, tức chỉ 200 tỷ đồng. Nếu phải trích lập cả 100%, chắc chắn lợi nhuận sẽ bị ảnh hưởng lớn.

Theo cập nhật từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 10/11/2013, VAMC đã nhận hồ sơ từ 20 tổ chức tín dụng đề nghị bán tổng cộng khoảng 38.000 tỷ đồng nợ xấu; trong đó công ty này đã mua lại trên 15.000 tỷ đồng từ 15 thành viên. Như vậy có thể hàng chục nghìn tỷ đồng đáng lẽ phải dùng trích lập dự phòng ngay, lại chỉ phải 20%, lợi nhuận bớt bị níu kéo lúc này, áp lực được gửi cho tương lai 4 năm sau nữa...


"Nhờ" Quyết định 780

Đang thể hiện và cũng khá trực tiếp là Quyết định 780 của Ngân hàng Nhà nước, cho phép cơ cấu lại nợ mà không phải chuyển nhóm. Những doanh nghiệp khó khăn tạm thời, vẫn có triển vọng phục hồi sản xuất kinh doanh và trả nợ, được tổ chức tín dụng xem xét cơ cấu lại nợ, trao thêm cơ hội. Lẽ ra, nợ của họ đã bị chuyển từ nhóm 2 sang nhóm 3, thậm chí nhóm 4 hoặc 5.

Việc không phải chuyển nhóm đồng nghĩa các tổ chức tín dụng không phải tăng thêm chi phí trích lập dự phòng, mà lẽ ra phải làm. Chênh lệch chi phí này giữa các nhóm là rất lớn; nhóm 2 chỉ là 5%, nhưng chuyển sang nhóm 3 đã là 20%.

Theo thông tin Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đưa ra mới đây, tổng số nợ các tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại khoảng 300.000 tỷ đồng, chiếm 10% tổng dư nợ, trong đó khoảng 60% các khoản nợ nếu không được cơ cấu lại đã trở thành nợ xấu. Như vậy có thể hiểu là có khoảng 180.000 tỷ đồng lẽ ra đã trở thành nợ xấu, đồng nghĩa với các tổ chức tín dụng lẽ ra đã phải dùng thêm hàng chục nghìn tỷ đồng để trích lập dự phòng.

Do vậy, áp lực khoản chi phí đó cũng được gửi cho tương lai, kỳ vọng vào khả năng doanh nghiệp sau khi được cơ cấu lại nợ sẽ thực hiện tốt nghĩa vụ của mình. 

Nếu không có Quyết định 780, một phần lớn nợ xấu đó phải trích lập đúng nhóm và đầy đủ, lợi nhuận ngân hàng chắc chắn bị chia sẻ đáng kể. Nên, các con số lợi nhuận 9 tháng đầu năm mà họ công bố, về thực chất là không phải như vậy.

Trước những tác động trên, và một số vấn đề khác từng phát sinh trên thực tế, từ cuối năm 2011, Ngân hàng Nhà nước cũng đã chủ động ngăn chặn những hệ quả nếu có tình huống ngân hàng báo lãi thiếu chân thực. Cụ thể:

Ngân hàng Nhà nước đã có Chỉ thị số 06, yêu cầu tổ chức tín dụng nào chưa thực hiện trích lập dự phòng đầy đủ thì không được tăng lương, không được chi trả cổ tức. Điều này để hạn chế tình huống báo lãi ảo rồi chia hết, khi có rủi ro hay lỗ phát sinh thì không còn nguồn để bù đắp.

Thời gian qua cũng đã có trường hợp thanh tra Ngân hàng Nhà nước phải xử lý, khi chia cổ tức vượt xa cả mức lợi nhuận có được sau khi tính toán lại.

Theo đại diện của VAMC, VAMC sẽ ưu tiên mua nợ xấu cho 3 đối tượng là: ngân hàng thương mại vốn nhà nước, các ngân hàng thuộc diện tái cơ cấu và các ngân hàng có nợ xấu trên 3%. Và với 3 đối tượng này, VAMC cũng ưu tiên để mua các khoản nợ đã hội đủ tiêu chí và sẵn sàng bán được ngay.

- Từ 1/10, VAMC mới bắt đầu mua nợ xấu. Theo đó, chiều 1/10, hợp đồng đầu tiên của VAMC Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) đã ký kết với Công ty Quản lý Tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) để bán trong đợt 1.

Tổng dư nợ gốc bán theo hợp đồng trên là 2.534 tỷ đồng của 27 khoản nợ xấu từ 11 doanh nghiệp vay Agribank. Sau khi lập dự phòng rủi ro theo quy định, tổng giá bán có giá 1.723 tỷ đồng.

Lãnh đạo VAMC cho biết, việc chọn Agribank là ngân hàng đầu tiên mua lại nợ xấu bởi đây là thành viên có thị phần tín dụng lớn nhất trong hệ thống, cũng như là đầu mối chính dẫn vốn cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Sau đó, VAMC sẽ tiếp tục ký hợp đồng mua nợ xấu của các thành viên khác như SCB, SHB, PGBank…

- Ngày 14-10, VAMC đã phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu của SCB, PGBank và SHB với giá trị cho từng ngân hàng lần lượt là 547,93 tỷ đồng, 170,08 tỷ đồng và 74,65 tỷ đồng. Thời hạn của đợt phát hành này đều là 5 năm, lãi suất 0% và có hiệu lực từ 16-10-2013

Công ty Quản lý và Khai thác Tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã hoàn tất hợp đồng ký kết mua nợ xấu của 3 ngân hàng là Sài Gòn Hà Nội (SHB), Xăng dầu (PGBank) và Sài Gòn (SCB). Được biết, những khoản nợ xấu này có giá trị sổ sách 1.159 tỷ đồng nhưng được VAMC mua lại với giá 846 tỷ.

3 ngân hàng SHB, PGBank, SCB bán nợ xấu cho VAMC đều là những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao. Trong đó, nợ xấu của SHB là 9%, PGBank là 8%.

Như vậy, đến nay, VAMC đã phát hành trái phiếu trị giá tổng cộng 2.569 tỷ đồng cho 4 ngân hàng trên.

- Ngày 11/10, Công ty Quản lý và Khai thác Tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) và Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) đã ký kết hợp đồng mua bán nợ xấu đợt 2.
Theo đó, giá trị các khoản nợ xấu lần này mà SCB bán cho VAMC khoảng 1.300 tỷ đồng. Đây là những khoản nợ của khoảng 30 khách hàng tại SCB. Trước đó, trong đợt một, ngân hàng này cũng đã bán 500 tỷ đồng nợ xấu cho VAMC.
Sau hai đợt ký kết, SCB đã bán cho VAMC 1.800 tỷ đồng nợ xấu. Thông tin từ SCB cho biết, VAMC sẽ thanh toán cho SCB giá trị mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành. Với việc bán các khoản nợ cho VAMC, SCB đã đưa tổng nợ xấu của toàn hệ thống xuống dưới 3%.

Như vậy, với việc mua nợ xấu đợt 2 của SCB, VAMC đã mua được khoảng 3.850 tỷ đồng nợ xấu từ 4 ngân hàng là Agribank, SCB, SHB, PGBank.

Sau khi ký hợp đồng chung, VAMC và các bên sẽ ký hợp đồng cụ thể cho từng khoản nợ. Việc phát hành trái phiếu đặc biệt được tiến hành ngay sau đó. Tuy nhiên, hiện lãi suất tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước qua trái phiếu này vẫn đang chờ Thủ tướng Chính phủ quyết định, dự tính tối thiểu là 2%/năm.

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó chủ tịch Hội đồng Thành viên VAMC cho biết, để có được tiến độ mua nợ ngay trong tháng 10, công ty và các tổ chức tín dụng đã có quá trình làm việc từ trước. Do có nhiều hồ sơ đăng ký gửi về, cán bộ nhân viên VAMC phải làm việc thêm ngoài giờ và cả ngày nghỉ và hiện vẫn chưa phân loại được hết các khoản nợ để quyết định mua hay không.

Trong thông cáo phát đi chiều nay (2/10), Hội đồng Thành viên VAMC cho biết: “Mua bán nợ chỉ là bước khởi đầu trong quá trình hợp tác nhiều năm giữa VAMC và các tổ chức tín dụng. Mục tiêu hướng tới ở những giai đoạn sau là hoạt động cơ cấu lại nợ để lành mạnh hóa tài chính tại các tổ chức tín dụng, các công tác hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động vay vốn tại các tổ chức tín dụng để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trong quá trình đó, VAMC kỳ vọng, với sự hỗ trợ của các tổ chức tín dụng, các cơ quan, ban ngành liên quan, VAMC sẽ nhanh chóng hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra, có đóng góp quan trọng trong việc xử lý nhanh nợ xấu và là nhân tố tích cực đóng góp vào quá trình phục hồi hoạt động của các doanh nghiệp và qua đó góp phần tạo ra tăng trưởng trở lại của nền kinh tế”.

Các chuyên gia cho rằng, việc mua nợ xấu (nhưng không có đầu ra) như hiện nay sẽ khiến “cục máu đông” không thể tan được. Trong khi lãnh đạo VAMC cho biết sẽ tìm cách cứu doanh nghiệp (DN) trước. Khi hết cách mới tính đến bán tài sản DN.
Trao đổi với PV Tiền Phong chiều 1/10, ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng thành viên Cty Quản lý và Khai thác tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) cho biết, vừa ký hợp đồng mua lại những khoản nợ đầu tiên từ Agribank với tổng giá trị 1.723 tỷ đồng. Trong số các khoản nợ xấu chuyển sang cho VAMC có 27 khoản với giá trị sổ sách hơn 2.400 tỷ đồng của 11 DN. Bán các khoản nợ xấu cho VAMC đợt này, Agribank giảm được 7,56% tổng nợ xấu của toàn hệ thống.
Sau khi mua xong các khoản nợ của Agribank, VAMC sẽ ủy quyền lại cho ngân hàng này quản lý (khoản nợ) và tiếp tục cùng với VAMC thực hiện các biện pháp để thu hồi, cơ cấu lại nợ. “Giờ đặt vấn đề vừa mua nợ xong đã bán ngay tài sản hơi sớm. Bán cũng phải có thời gian và phải xem xét tài sản thế chấp thế nào, khả năng trả nợ của khách hàng ra sao. Quan điểm chúng tôi phải tìm cách cứu, vực dậy khách hàng trước, chứ không chỉ nhăm nhăm tìm cách bán tài sản của người nợ. Việc bán tài sản chỉ thực hiện khi không còn cách nào khác”, ông Hùng cho biết.
Bế tắc đầu ra
Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành cho rằng, xử lý nợ xấu sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi tỷ lệ cho vay của các ngân hàng Việt Nam cộng lại trong 2 năm vừa qua lên tới hơn 100% số tiền huy động. Với cách chuyển nợ sang VAMC như hiện nay, chỉ giúp bảng cân đối của các ngân hàng đẹp lên, chứ hiệu quả xử lý không cao.

Đặc biệt, có những ngân hàng vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng (nợ xấu trên tổng vốn cho vay chiếm tới hơn 30% hoặc có nợ xấu vài nghìn tỷ đồng), nhưng vẫn được tiếp tục cho vay. Trong khi ở các nước, khi vốn điều lệ của ngân hàng đã bị bào mòn và tiền dự trữ để xử lý nợ xấu không còn đủ thì không được tiếp tục hoạt động.

Theo ông Thành, bài toán lớn nhất hiện nay là xử lý tài sản đảm bảo sau khi được VAMC mua lại sẽ ra sao. Nếu VAMC “ôm” các khoản nợ xấu có tài sản đảm bảo (các công trình, dự án đang xây dựng dở dang và nhà xưởng, máy móc của doanh nghiệp) chắc chắn sẽ khó tìm được người mua trong bối cảnh hiện nay.

Hơn nữa, ngân hàng đã bán nợ xấu cho VAMC, nhưng vẫn phải trích lập dự phòng nợ xấu 20%/năm chả khác gì không bán nợ. Việc này chỉ đơn giản giúp ngân hàng làm sạch sổ sách tạm thời.

Cách xử lý nợ xấu nhanh và hiệu quả hiện nay là cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua nợ với những ưu đãi riêng. Như ở Thái Lan, họ cho phép người nước ngoài mua lại nợ xấu bất động sản và được sở hữu trong một khoảng thời gian nhất định.
Tài sản này cũng được phép chuyển nhượng sau đó. Phần lợi nhuận, nhà đầu tư mua nợ xấu được phép chuyển về nước của mình nếu việc kinh doanh có lãi.

“Tôi không thấy phương án xử lý đầu ra của các khoản nợ xấu mà VAMC mua. Nếu không xử lý được đầu ra thì mua vào để làm gì? Ai bán hàng cũng muốn có người mua và ngược lại người mua vào cũng muốn tìm được người để bán lại hàng. Nhưng vấn đề là ai mua lại các khoản nợ như vậy”, ông Thành nói.


VAMC bán lại nợ xấu cho ai?
Vấn đề đặt ra là VAMC làm thế nào để tiêu thụ hết số nợ mà các NH đã bán. Theo các NH thương mại, VAMC sẽ tiến hành phân loại tài sản là nhà xưởng, máy móc, bất động sản... rồi ủy quyền cho NH quản lý các loại tài sản thuộc dạng “ve chai” để tìm nhà đầu tư rồi bán lại. Còn các loại tài sản có giá trị lớn như khu công nghiệp, dự án bất động sản…, VAMC sẽ giữ lại để bán cho các tổ chức trong và ngoài nước.
Theo các chuyên gia tài chính, hiện nay NH Thế giới đang đặt vấn đề hợp tác với VAMC về xử lý nợ xấu. Thế nhưng, các yếu tố pháp lý chưa đủ hỗ trợ cho các tổ chức tài chính quốc tế, nhất là quyền hạn của nhà đầu tư nước ngoài còn bị hạn chế khi mua nợ thuộc lĩnh vực bất động sản.
TS Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, cho rằng điều mà Chính phủ lo ngại nhất là thị trường nợ xấu không có nhà đầu tư nước ngoài tham gia. Thế nhưng, khi VAMC đi vận động, các nhà đầu tư nước ngoài đã “xếp hàng” để mua nợ xấu, trong đó có cả những tổ chức lớn như Blackstone Group, Deutsche Bank Capital... “Tôi đã hỏi 16 đoàn nhà đầu tư nước ngoài vào tìm hiểu thị trường Việt Nam, điều mà họ mong mỏi nhất là thủ tục mua bán nợ cần phải triển khai thật nhanh” - ông Nghĩa nói.
Ông Nguyễn Văn Thuận, Trưởng Khoa Tài chính - NH Trường ĐH Mở TP HCM, cho rằng NH bán nợ xấu thực chất là chuyển giao chủ nợ cho VAMC. Vấn đề quan trọng là VAMC phải bán được số nợ xấu đã mua. Khi đó, thị trường sẽ có thêm dòng tiền mới, tình hình tài chính của doanh nghiệp được cải thiện, từng bước giải quyết hàng tồn kho, khôi phục hoạt động.
Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp ban hành thông tư liên tịch trong năm 2013 nhưng đến thời điểm này vẫn chưa có.

Tính đến cuối tháng 10, VAMC đã mua hơn 11.000 tỷ đồng nợ xấu của 14 ngân hàng. 



Tình trạng vàng hóa trong hệ thống NHTM

Trong gần 13 năm vốn vàng tồn tại với hệ thống ngân hàng dưới dạng huy động và cho vay, 5 năm về cuối là quãng nhức nhối nhất, nhiều rủi ro nhất, để rồi phải dứt điểm cắt bỏ. 

Bắt đầu từ năm 2000, vàng trở thành dòng vốn thực sự trong hệ thống khi Ngân hàng Nhà nước mở cơ chế huy động - cho vay, cho chuyển đổi 30% thành tiền. Một nguồn lực lớn trong dân cư được kích hoạt, trở nên năng động, không chỉ mang lại lợi ích cho các ngân hàng thương mại, cho các chủ thể sở hữu, vay mượn và còn có giá trị với các hoạt động đầu tư liên quan cho nền kinh tế.

Thế nhưng, giai đoạn tương đối ổn định này bị phá vỡ từ những năm 2007 - 2008, khi vốn vàng mở rộng ảnh hưởng, giá bắt đầu chạy nhanh và dồn đẩy nhiều rủi ro, hệ lụy.
Năm 2008, thị trường chứng khoán rơi vào khủng hoảng. Lúc đó, một số ngân hàng tự tin rằng, điểm rơi thu nhập từ chứng khoán sẽ được vàng bù đắp. Quả thực, năm 2009 nhiều thành viên ghi nhận nguồn thu lớn từ kinh doanh ngoại hối và vàng, ấn tượng nhất tại Ngân hàng Á Châu (ACB) với mức lãi tới 422,33 tỷ đồng.

Nhưng, lợi nhuận từ vàng nhanh chóng sụt đi từ năm 2010. Đến 2011 và đặc biệt năm 2012, nhiều ngân hàng ghi nhận lỗ lớn. Mức lỗ ít cỡ trăm tỷ đồng, thường thường cũng vài ba trăm tỷ đồng, đỉnh điểm và phần lớn do sự cố cá biệt tại ACB là lỗ tới 1.863,64 tỷ đồng trong kinh doanh ngoại hối và vàng (chủ yếu từ vàng) năm 2012.
Đó cũng là giai đoạn sàn vàng bùng nổ. Ban đầu là giao dịch vàng vật chất, rồi nhanh chóng biến tướng thành vàng tài khoản, đi cùng với đó là sự bơm thổi của đòn bẩy tài chính. Bong bóng xoay quanh vốn vàng ngày càng lớn, gia tăng ảnh hưởng đối với kinh tế vĩ mô và cả những bất ổn xã hội. Với nhiều nhà đầu tư, thua lỗ và khiếu kiện là thực tế nhức nhối ở giai đoạn này.

Từ những cá nhân vay vàng nhỏ lẻ cho tiêu dùng, vàng trở thành công cụ lãi suất thấp tạo vốn để đầu tư vào chứng khoán, bất động sản và vào... chính vàng. Một mặt dòng vốn này kích thích thêm sự đầu cơ quá mức và thổi thêm bong bóng ở những thị trường trên, thúc đẩy thêm mức độ vàng hóa trong nền kinh tế; mặt khác, các chủ thể liên quan đối diện với rủi ro lớn khi giá liên tục tăng cao.

Giá vàng đã chạy chóng mặt từ 16 - 17 triệu đồng/lượng quãng 2007 - 2008 lên tới 26 - 27 triệu đồng/lượng trong năm 2009, rồi phi thẳng lên gần 37 triệu đồng/lượng cuối 2010 đầu 2011. Hay như trên, giai đoạn cao điểm cho vay và chuyển đổi, giá chạy từ 37 triệu lên 48 triệu đồng/lượng…

Hoạt động chuyển đổi và cho vay vàng đối diện với thua lỗ, rủi ro. Quan trọng hơn, theo giám sát của Ngân hàng Nhà nước, vấn đề an toàn hệ thống được đặt ra khi giá vàng chạy quá nhanh khiến chất lượng các khoản vay kém đi, người vay chịu sức ép trả nợ lớn, nhất là khi không đủ sức bổ sung tài sản thế chấp cho kịp tốc độ lên giá như bão của vàng. Rủi ro này cũng không loại trừ các khoản gửi, hoặc vay mượn lẫn nhau trên liên ngân hàng. Cao điểm tổng vốn vàng 165 tấn là một quy mô có ảnh hưởng lớn đối với hệ thống.

Trước những rủi ro và hệ lụy diễn ra quá nhanh với mức độ ảnh hưởng lớn, Chính phủ đã có chủ trương siết lại. Ngân hàng Nhà nước vào cuộc hạn chế và tiến tới cắt bỏ. Nối tiếp là một giai đoạn căng thẳng và quyết liệt cuối 2012 đầu 2013…

Trước khi chủ trương siết chặt thị trường vàng thành hiện thực, các NHTM đã có thời gian khá dài để chuẩn bị. Đầu năm 2010, Chính phủ có định hướng tăng cường quản lý thị trường vàng, đặc biệt là vốn vàng và việc chuyển đổi trong hệ thống ngân hàng. Đây là tín hiệu đầu tiên, có thể xem là một sự đánh động hay báo trước những thay đổi về cơ chế, chính sách.

Đến tháng 10/2010, Ngân hàng Nhà nước chính thức ban hành Thông tư số 22, bước đầu triển khai định hướng trên. Đến tháng 2/2011, Chính phủ tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm soát chặt chẽ ảnh hưởng của vốn vàng trong Nghị quyết số 11. Đến tháng 4/2011, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ban hành Thông tư số 11 yêu cầu các ngân hàng ngừng huy động và cho vay vàng.

Nhưng thực tế, chính trong 3 năm đó, vốn vàng lại được nhồi mạnh nhất, mức độ sử dụng lớn nhất trong gần 13 năm nó có mặt trong hệ thống dưới dạng huy động, cho vay và chuyển đổi (từ năm 2000). 

Dữ liệu VnEconomy tìm hiểu và tính toán qua báo cáo tài chính cho thấy, chính trong giai đoạn cao điểm chuẩn bị cho yêu cầu siết lại, tổng vốn vàng trong hệ thống 18 ngân hàng thương mại tham gia huy động và cho vay vàng lại được đẩy từ khoảng 120 tấn cuối 2010 lên tới 165 tấn trong quý 1/2012 - mức cao nhất từ trước tới nay.

Cũng trong năm cao điểm chuẩn bị ngừng huy động và cho vay, sau khi có Thông tư số 11, mức độ sử dụng vốn vàng được đẩy cao, tập trung ở việc đẩy mạnh cho vay bằng vàng và chuyển đổi vàng sang VND.

Cụ thể, ở thời điểm cuối quý 2/2011, có khoảng 44,5 tấn vàng đã được cho vay, là quy mô dư nợ bằng vàng lớn nhất trong quá khứ. Quy mô này tương đương với khoảng 45 nghìn tỷ đồng quy đổi theo giá vàng cuối quý 2/2011 - một mức độ mà sau này bị bóc đi, góp phần giải thích cho tăng trưởng tín dụng hệ thống năm 2012 ở mức thấp.

Trong khi đó, liên tục từ quý 4/2011 cho đến quý 2/2012 là giai đoạn cao điểm các ngân hàng chuyển đổi vàng sang VND. Chỉ tính riêng ba ngân hàng lớn là ACB, Eximbank và Sacombank, quy mô ở hoạt động này đã gần 50 tấn. Ở đây có một yếu tố quan trọng, là thời điểm họ bán ra bình ổn theo sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước, với Thông tư số 32 cùng nhóm được gọi là G5+1.

Cũng lưu ý rằng, chính trong giai đoạn cao điểm chuẩn bị ngừng huy động và cho vay, các ngân hàng lại đẩy mạnh cho vay và chuyển đổi, thì cũng là quãng giá vàng chạy chóng mặt (từ khoảng 37 triệu đồng/lượng lên tới gần 48 triệu đồng/lượng). Rủi ro lớn bộc lộ, cả với ngân hàng lẫn khách vay vàng. Nhức nhối vốn vàng một thời càng được đẩy cao.

Một lãnh đạo chuyên trách của Ngân hàng Nhà nước từng nêu quan điểm rằng: vàng là một nguồn lực lớn, không thể phủ nhận những giá trị tích cực. Song đã có quá nhiều rủi ro bộc lộ, nhất là khi lệ thuộc vào biến động khó lường của thị trường thế giới. Mức độ sử dụng vốn vàng lớn gắn với rủi ro gia tăng càng gây áp lực tới an toàn hệ thống, nhất là về thanh khoản và lãi suất. Và một khi hệ thống ngân hàng bất ổn, kinh tế vĩ mô càng khó ổn định.

Ngoài rủi ro về giá, an toàn thanh khoản hệ thống từng ở tình trạng báo động khi có sự mất cân đối quá lớn trong cơ cấu kỳ hạn huy động - cho vay vàng. Vốn vàng huy động rất ngắn, chủ yếu chỉ từ 1 - 3 tháng, dài hơn có thể 6 tháng, trong khi lại được dùng cho vay nhiều khoản dài tới 5 năm, 10 năm, thậm chí tới 20 năm. Chênh lệch bình quân kỳ hạn giữa huy động và cho vay vàng từng được thống kê lên tới 3 năm!

Vốn quá ngắn, cho vay quá dài dễ dẫn tới rủi ro thanh khoản. Đây cũng là bất cập chính khiến quá trình bóc tách vốn vàng ra khỏi hệ thống, hay tất toán trạng thái trở nên phức tạp trong thời gian qua. Hay là bất cập mà Ngân hàng Nhà nước nhắm đến để loại trừ.


Với thực trạng trên, khi phải tất toán các khoản cho vay bằng vàng, các NH phải chịu rủi ro về giá. Họ không phải tất toán dư nợ, nhưng phải tất toán vốn vàng huy động đã sử dụng để cho vay. Dữ liệu tập hợp cho thấy, đến cuối quý 1/2013, tổng dư nợ bằng vàng của 18 ngân hàng vẫn còn gần 15 tấn. 

Giả sử cuối quý 1/2013, họ phải dồn mua khoảng 15 tấn đã cho vay chưa đáo hạn đó với giá 43 - 44 triệu đồng/lượng. Sau này dư nợ vàng lần lượt trở về, trở thành tài sản trực tiếp của họ, xu hướng giá giảm đang thể hiện và thực tế rơi về quanh 38 - 39 triệu đồng. Rủi ro, hay lỗ là hiện hữu. Nếu có thể trì hoãn, vốn vàng cho vay dần đáo hạn thì sẽ bớt áp lực. Thực tế, đến cuối quý 2/2013, tổng dư nợ bằng vàng đã giảm xuống chỉ còn khoảng 7,2 tấn (có thể một phần đã được đàm phán với khách hàng chuyển sang thành khoản vay bằng VND).

Một rủi ro nữa là chi phí để mua vàng tất toán. Từ trong năm 2012 cho đến quý 1/2013, ước tính 18 ngân hàng đã dồn sức mua được 100 tấn. Dễ thấy một thời gian dài một số thành viên yết giá mua vào gần như san bằng giá bán, ý là quyết mua cho được. Bản thân họ cũng quyết liệt cho tất toán trạng thái, song với nhu cầu lớn như vậy, nguồn cung trên thị trường trở nên cạn kiệt, nhất là khi đã ngừng nhập khẩu suốt hai năm qua.

Rủi ro chi phí ở đây là lực cầu lớn từ tất toán thường trực, tình thế phải mua càng kích thích giá cao trên thị trường. Với một thị trường rất nhạy cảm, chỉ cần xuất hiện giao dịch mua vào cỡ 500 - 1.000 lượng đã có thể kích thích giá. Điều này cũng góp phần giải thích vì sao chênh lệch giá trong nước so với thế giới doãng rộng và kéo dài.

Rồi ngày 28/3, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu tổ chức đấu thầu vàng miếng, nguồn cung mới được mở ra, song cũng chưa hết căng thẳng.

Chi phí cơ hội

Có nguồn cung đấu thầu, 18 ngân hàng vào cuộc nước rút tất toán. Thực tế, sau 30/6 vẫn còn hai trường hợp phải cần thêm một tuần nữa mới hoàn tất.

Theo dữ liệu Ngân hàng Nhà nước công bố tuần qua, có khoảng 30 tấn vàng qua đấu thầu được mua để tất toán, tức phải dùng khoảng 30 nghìn tỷ đồng. Với những ngân hàng lớn và vốn khá dồi dào như ACB, Eximbank, Sacombank…, nguồn đối ứng không gây khó khăn. Nhưng hai trường hợp trên cả một vấn đề.

Nếu dồn lực tiền đồng để mua cho đủ vàng, khó khăn thanh khoản là rủi ro được tính đến. Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét hỗ trợ bằng tái cấp vốn, song cái giá đổi lại không dễ chịu, họ sẽ rơi vào diện bị kiểm soát (dù khác với diện bị kiểm soát đặc biệt). Trong khi đó, vay trên liên ngân hàng cũng không dễ, bởi ngân hàng bạn dè chừng… Thế nên, phải một tuần sau mốc hẹn 30/6 họ mới thu xếp xong.

Ở tình hình chung, điểm thuận lợi là, xuyên suốt quá trình tất toán trạng thái vàng, Ngân hàng Nhà nước đã bám sát và điều hòa nguồn tiền ở các kênh bơm - hút. Điều này giúp kiểm soát và hạn chế những tác động có thể gây tổn thương thanh khoản hệ thống, cũng như tránh những áp lực hay xáo trộn lãi suất trên thị trường.

Nhưng, với 18 ngân hàng đó, rủi ro ở đây là chi phí cơ hội trong sử dụng vốn. Ước tính ở giai đoạn nước rút tất toán, có trên 100 nghìn tỷ đồng buộc phải dồn để mua vàng, thay vì để đầu tư cho các kênh kinh doanh khác. Nói là “cắn môi” với sự ra đi của vốn vàng một phần cũng nằm ở đây. Dĩ nhiên, trước đây vốn vàng cũng đã cho họ nhiều cơ hội tạo lợi nhuận, nay có lẽ là một sự đổi lại mà thôi (?).

Ở khía cạnh khác, “may mà” hơn 100 nghìn tỷ đồng đó đã mua được vàng trong nước, nếu không thì đã có ít nhất 5 tỷ USD chảy ra ngoài để nhập về cho tất toán.


 Trước đây các ngân hàng huy động vàng vì có thể dùng 30%-40% số vàng huy động này chuyển đổi thành tiền để cho vay, mang thế chấp cho ngân hàng khác hoặc bán lấy tiền ngắn hạn cho mục đích khác. Nay NHNN cấm việc này đồng thời yêu cầu phải trả đúng số seri vàng mà người dân đã gửi. Điều này khiến ngân hàng không thể kiếm lợi “khủng” nữa.

Theo: http://vneconomy.vn

Thị trường tiền tệ xáo trộn, doanh nghiệp thất thu

Những năm qua, các thị trường mới nổi đã đem vận đỏ đến với nhiều doanh nghiệp, nhưng đợt lao dốc của các đồng nội tệ tại các thị trường này từ giữa năm nay (do nhà đầu tư đồn đoán Mỹ sẽ giảm quy mô gói kích thích kinh tế) đã ảnh hưởng nhiều đến doanh thu và lợi nhuận của các công ty.


Thị trường tiền tệ xáo trộn, doanh nghiệp thất thu

Kết quả kinh doanh hàng quý của hàng loạt "đại gia", từ Coca-Cola, IBM, Unilever, Casino... tới tập đoàn xa xỉ phẩm LVMH cho thấy biến động về tiền tệ đã ảnh hưởng nặng nề đến khối doanh nghiệp.

Các chuyên gia kinh tế tại công ty môi giới Aurel BGC nhận định rủi ro tại thị trường mới nổi là nguồn cơn của mối lo trong các báo cáo kết quả kinh doanh quý III/2013.

Đồng real của Brazil, rand của Nam Phi, lira của Thổ Nhĩ Kỳ, rupee Ấn Độ và rupiah của Indonesia đã để "bốc hơi" 1/5 giá trị trong tháng Tám vừa qua, khi các nhà đầu tư thoái vốn trên cơ sở dự đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ sớm thu hẹp chương trình kích thích tiền tệ khổng lồ của mình.

Chuyên gia giao dịch Toby Morris thuộc CMC Markets nhận định: một loạt công ty không đạt mục tiêu doanh thu trong quý III/2013, với một lý do đang bị "tố" nhiều đó là tác động của đồng euro mạnh.

Các công ty sống dựa vào lực lượng khách hàng ở các thị trường mới nổi bị ảnh hưởng nặng nề nhất, trong bối cảnh các đồng nội tệ ở Nam Mỹ và Ấn Độ suy yếu. Đồng euro không chỉ lên giá nhiều so với các đồng tiền của khu vực thị trường mới nổi, mà còn đạt mức cao nhất kể từ năm 2011 so với đồng USD do những thống kê kinh tế đáng thất vọng phát đi từ Mỹ.

Tập đoàn thiết bị điện của Pháp Schneider Electric cảnh báo đồng euro bị đẩy giá quá cao và ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của công ty. Trả lời phỏng vấn hãng tin Pháp AFP, Giám đốc phụ trách tài chính của Schneider Electric, Emmanuel Babeau, nói: "Eurozone là khu vực kinh tế lớn duy nhất không sử dụng đồng tiền của mình như một vũ khí kinh tế hay một vũ khí để cạnh tranh."

Tăng trưởng doanh thu của tập đoàn đã rơi vào tình trạng trì trệ, trong khi được dự báo là tăng nhẹ. Hãng sản xuất ô tô Pháp Renault cũng chịu chung số phận khi doanh thu giảm 3,2%.

Tập đoàn siêu thị Casino của Pháp, vốn có nhiều hoạt động tại Brazil, cho biết, tỷ giá hối đoái biến động khiến tổng doanh thu của tập đoàn giảm 16,5 điểm phần trăm.

Ngay cả các công ty Mỹ cũng bị ảnh hưởng. Với Coca-Cola, doanh số bán mặc dù tăng 3% nhưng thu nhập ròng lại giảm 3%.

Các chuyên gia phân tích dự báo khối doanh nghiệp sẽ phải tiếp tục chịu tác động tiêu cực từ những biến động trên trên thị trường tiền tệ trong những quý tới.

Sanjay Mathur, chuyên gia kinh tế hàng đầu của Royal Bank of Scotland cảnh báo, trong những tháng tới, các công ty cần có phương án phòng vệ để đối phó với những rủi ro khi tỷ giá hối đoái biến động.

Rủi ro sẽ quay lại thị trường khi Fed bắt đầu rút dần quy mô chương trình mua trái phiếu trị giá 80 tỷ USD/tháng, mà nhiều chuyên gia dự kiến vào khoảng đầu năm 2014./.

Hương Giang (TTXVN)

THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - TIỆN TỆ



“Tín dụng đen ở Việt Nam xấp xỉ 30% tín dụng ngân hàng”


Những thương vụ sáp nhập ngân hàng đang tạo ra các định chế tài chính cực lớn với vốn góp, tổng tài sản. Thế nhưng to chưa chắc đã khỏe!

Sáp nhập, hợp nhất và…?
ảnh minh họa
Nhìn vào thương vụ sáp nhập giữa DaiA Bank và HDBank đang diễn ra, có thể dự báo về một ngân hàng mới có quy mô top đầu trong khối ngân hàng hiện nay. Điều này cũng tương tự như PVcomBank vừa mới ra mắt có vốn điều lệ tới 9.000 tỷ đồng, tổng tài sản trên 100.000 tỷ đồng. Hay như các trường hợp hợp nhất, sáp nhập trước đó nữa là SHB và SCB đều tạo ra các định chế tài chính có trên 100.000 tỷ đồng tài sản.
Đặt phép so sánh thì các định chế hậu sáp nhập, trừ thương vụ HDBank-DaiABank chỉ tạo ra một ngân hàng có vốn điều lệ 8.100 tỷ đồng; tổng tài sản trên 70.000 tỷ đồng, còn lại đều có quy mô trong top trên của nhóm các ngân hàng cổ phần, chỉ thua kém nhóm dẫn đầu là Techcombank, ACB, MB, Eximbank, Sacombank.
Theo phó tổng giám đốc một ngân hàng, trong bối cảnh kinh tế còn khó khăn hiện nay, con số về quy mô không có quá nhiều ý nghĩa để đánh giá sức mạnh hoạt động. Quan trọng nhất là chất lượng tài sản. Một ngân hàng huy động nhiều và cho vay nhiều sẽ có con số tổng tài sản rất cao, nhưng nợ xấu thực tế là bao nhiêu mới phản ánh chính xác được thực trạng hoạt động.
“Năm 2012 - 2013 đã chứng kiến nhiều ngân hàng chấp nhận giảm tổng tài sản rất lớn để kiểm soát chất lượng cho vay. Có ngân hàng từ hơn 96.000 tỷ đồng đầu năm 2012, đến cuối năm chỉ còn 64.000 tỷ đồng và tính đến hết 6 tháng đầu năm nay chỉ đạt khoảng 68.000 tỷ đồng”, vị phó tổng giám đốc trên cho biết. “Đánh giá các ngân hàng hậu hợp nhất, sáp nhập không nên nhìn vào quy mô, mà hãy xem họ làm gì để đầu tiên là khắc phục các điểm yếu khiến họ buộc phải sáp nhập, hợp nhất”.
Trên thực tế, trong thương vụ HDBank-DaiABank, tình hình của bên sẽ bị sáp nhập là DaiABank trước đó đã thay đổi theo chiều hướng đi xuống. Việc các cổ đông lớn lần lượt thoái vốn và hoạt động kinh doanh của nhà băng này kém hơn những năm gần đây là một trong các nguyên nhân để DaiA Bank chọn phương án tái cấu trúc thông qua sáp nhập.
Còn bên nhận sáp nhập, họ nhận về không ngoài lý do của hầu hết các vụ sáp nhập khác đó là dùng thời gian nhanh nhất để có được mạng lưới và cơ sở khách hàng có sẵn của bên bị sáp nhập.
Ngoài ra, có thể có thêm một số lý do khác, chẳng hạn như trong thương vụ PVFC hợp nhất với Western Bank tạo ra PVcomBank, thì ưu thế quan trọng nhất được giới phân tích nhận định là mối quan hệ trong ngành dầu khí, với kinh nghiệm tài trợ và cung cấp dịch vụ tài chính lâu năm của PVFC.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia tại Diễn đàn M&A Việt Nam, không phải vụ hợp nhất, sáp nhập nào cũng thành công. Một định chế mới có xử lý được các tồn tại cũ, hệ thống mạng lưới khách hàng cũ hay không thì cần thời gian để trả lời.
Thực tế cho thấy, sau các cuộc khủng hoảng kinh tế, hợp tác kinh doanh dưới các hình thức hợp nhất, sáp nhập diễn ra rất phổ biến tại các nước trong khu vực, góp phần tạo nên các định chế tài chính có quy mô và năng lực cạnh tranh lớn mạnh hơn.
Ngoài ra, việc hợp nhất, sáp nhập giữa các ngân hàng cũng là phù hợp với chủ trương tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của NHNN, nhằm phát triển hệ thống ngân hàng theo hướng giảm về số lượng, tăng về quy mô và chất lượng.
Trong khảo sát của KPMG về ngành ngân hàng năm 2013, các ý kiến đưa ra đều chung nhận định, với một ngành ngân hàng vững chắc sẽ là yếu tố rất quan trọng cho bất kỳ một đất nước đang phát triển nào. Vì thế, tái cấu trúc ngành ngân hàng là điều hết sức cần thiết, để chọn lọc lại các nhà băng có thể phát triển tốt hơn.
Tuy nhiên, theo đánh giá của KPMG, tiến trình tái cơ cấu ngành mà NHNN đang thực hiện còn chậm. Nguyên nhân chính là việc sáp nhập giữa các nhà băng không hề đơn giản, do những phức tạp khi kết hợp con người, công nghệ, chi nhánh và thương hiệu.
Cùng chung nhận định này, các chuyên gia lĩnh vực tài chính cho rằng, còn thiếu kiến thức và nền tảng để hợp nhất ngành ngân hàng qua việc sáp nhập các nhà băng. Việc quản trị các ngân hàng hậu sáp nhập đòi hỏi một trình độ cao hơn rất nhiều so với việc điều hành một ngân hàng bình thường.

Thị trường ngân hàng có thành viên mới

Ngày 4/10, đồng loạt Hội sở, các chi nhánh, phòng giao dịch của PVcomBank ra mắt, đánh dấu sự biến mất của hai thương hiệu PVFC và Western Bank.
Sáng nay, Ngân hàng Đại chúng Việt Nam (PVcomBank) chính thức ra mắt đồng loạt Hội sở, các chi nhánh và phòng giao dịch trên trên toàn quốc. PVcomBank là ngân hàng được hợp nhất từ Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) và Ngân hàng Phương Tây (Western Bank). Sau khi hợp nhất từ hai cái tên này, PVcomBank có vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, quy mô tài sản trên 100.000 tỷ với hơn trăm điểm giao dịch trên cả nước. Như vậy, hai thương hiệu PVFC và Western Bank cũng đã chính thức biến mất trên thị trường.
PVFC và Western Bank bén duyên từ hơn một năm nay và được giới chuyên môn đánh giá là thương vụ có lợi và khắc phục những nhược điểm cho cả đôi bên. Sau hợp nhất, PVcomBank được cung cấp mọi dịch vụ của một ngân hàng thương mại như huy động vốn, thanh toán, dịch vụ bán lẻ.
Sau khi hợp nhất từ hai tổ chức tín dụng này, PVcomBank sẽ duy trì vốn điều lệ là 9.000 tỷ đồng đến năm 2014. Sang năm 2015, nhà băng này dự kiến sẽ nâng vốn lên 12.000 tỷ đồng.