Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

Tình trạng vàng hóa trong hệ thống NHTM

Trong gần 13 năm vốn vàng tồn tại với hệ thống ngân hàng dưới dạng huy động và cho vay, 5 năm về cuối là quãng nhức nhối nhất, nhiều rủi ro nhất, để rồi phải dứt điểm cắt bỏ. 

Bắt đầu từ năm 2000, vàng trở thành dòng vốn thực sự trong hệ thống khi Ngân hàng Nhà nước mở cơ chế huy động - cho vay, cho chuyển đổi 30% thành tiền. Một nguồn lực lớn trong dân cư được kích hoạt, trở nên năng động, không chỉ mang lại lợi ích cho các ngân hàng thương mại, cho các chủ thể sở hữu, vay mượn và còn có giá trị với các hoạt động đầu tư liên quan cho nền kinh tế.

Thế nhưng, giai đoạn tương đối ổn định này bị phá vỡ từ những năm 2007 - 2008, khi vốn vàng mở rộng ảnh hưởng, giá bắt đầu chạy nhanh và dồn đẩy nhiều rủi ro, hệ lụy.
Năm 2008, thị trường chứng khoán rơi vào khủng hoảng. Lúc đó, một số ngân hàng tự tin rằng, điểm rơi thu nhập từ chứng khoán sẽ được vàng bù đắp. Quả thực, năm 2009 nhiều thành viên ghi nhận nguồn thu lớn từ kinh doanh ngoại hối và vàng, ấn tượng nhất tại Ngân hàng Á Châu (ACB) với mức lãi tới 422,33 tỷ đồng.

Nhưng, lợi nhuận từ vàng nhanh chóng sụt đi từ năm 2010. Đến 2011 và đặc biệt năm 2012, nhiều ngân hàng ghi nhận lỗ lớn. Mức lỗ ít cỡ trăm tỷ đồng, thường thường cũng vài ba trăm tỷ đồng, đỉnh điểm và phần lớn do sự cố cá biệt tại ACB là lỗ tới 1.863,64 tỷ đồng trong kinh doanh ngoại hối và vàng (chủ yếu từ vàng) năm 2012.
Đó cũng là giai đoạn sàn vàng bùng nổ. Ban đầu là giao dịch vàng vật chất, rồi nhanh chóng biến tướng thành vàng tài khoản, đi cùng với đó là sự bơm thổi của đòn bẩy tài chính. Bong bóng xoay quanh vốn vàng ngày càng lớn, gia tăng ảnh hưởng đối với kinh tế vĩ mô và cả những bất ổn xã hội. Với nhiều nhà đầu tư, thua lỗ và khiếu kiện là thực tế nhức nhối ở giai đoạn này.

Từ những cá nhân vay vàng nhỏ lẻ cho tiêu dùng, vàng trở thành công cụ lãi suất thấp tạo vốn để đầu tư vào chứng khoán, bất động sản và vào... chính vàng. Một mặt dòng vốn này kích thích thêm sự đầu cơ quá mức và thổi thêm bong bóng ở những thị trường trên, thúc đẩy thêm mức độ vàng hóa trong nền kinh tế; mặt khác, các chủ thể liên quan đối diện với rủi ro lớn khi giá liên tục tăng cao.

Giá vàng đã chạy chóng mặt từ 16 - 17 triệu đồng/lượng quãng 2007 - 2008 lên tới 26 - 27 triệu đồng/lượng trong năm 2009, rồi phi thẳng lên gần 37 triệu đồng/lượng cuối 2010 đầu 2011. Hay như trên, giai đoạn cao điểm cho vay và chuyển đổi, giá chạy từ 37 triệu lên 48 triệu đồng/lượng…

Hoạt động chuyển đổi và cho vay vàng đối diện với thua lỗ, rủi ro. Quan trọng hơn, theo giám sát của Ngân hàng Nhà nước, vấn đề an toàn hệ thống được đặt ra khi giá vàng chạy quá nhanh khiến chất lượng các khoản vay kém đi, người vay chịu sức ép trả nợ lớn, nhất là khi không đủ sức bổ sung tài sản thế chấp cho kịp tốc độ lên giá như bão của vàng. Rủi ro này cũng không loại trừ các khoản gửi, hoặc vay mượn lẫn nhau trên liên ngân hàng. Cao điểm tổng vốn vàng 165 tấn là một quy mô có ảnh hưởng lớn đối với hệ thống.

Trước những rủi ro và hệ lụy diễn ra quá nhanh với mức độ ảnh hưởng lớn, Chính phủ đã có chủ trương siết lại. Ngân hàng Nhà nước vào cuộc hạn chế và tiến tới cắt bỏ. Nối tiếp là một giai đoạn căng thẳng và quyết liệt cuối 2012 đầu 2013…

Trước khi chủ trương siết chặt thị trường vàng thành hiện thực, các NHTM đã có thời gian khá dài để chuẩn bị. Đầu năm 2010, Chính phủ có định hướng tăng cường quản lý thị trường vàng, đặc biệt là vốn vàng và việc chuyển đổi trong hệ thống ngân hàng. Đây là tín hiệu đầu tiên, có thể xem là một sự đánh động hay báo trước những thay đổi về cơ chế, chính sách.

Đến tháng 10/2010, Ngân hàng Nhà nước chính thức ban hành Thông tư số 22, bước đầu triển khai định hướng trên. Đến tháng 2/2011, Chính phủ tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm soát chặt chẽ ảnh hưởng của vốn vàng trong Nghị quyết số 11. Đến tháng 4/2011, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ban hành Thông tư số 11 yêu cầu các ngân hàng ngừng huy động và cho vay vàng.

Nhưng thực tế, chính trong 3 năm đó, vốn vàng lại được nhồi mạnh nhất, mức độ sử dụng lớn nhất trong gần 13 năm nó có mặt trong hệ thống dưới dạng huy động, cho vay và chuyển đổi (từ năm 2000). 

Dữ liệu VnEconomy tìm hiểu và tính toán qua báo cáo tài chính cho thấy, chính trong giai đoạn cao điểm chuẩn bị cho yêu cầu siết lại, tổng vốn vàng trong hệ thống 18 ngân hàng thương mại tham gia huy động và cho vay vàng lại được đẩy từ khoảng 120 tấn cuối 2010 lên tới 165 tấn trong quý 1/2012 - mức cao nhất từ trước tới nay.

Cũng trong năm cao điểm chuẩn bị ngừng huy động và cho vay, sau khi có Thông tư số 11, mức độ sử dụng vốn vàng được đẩy cao, tập trung ở việc đẩy mạnh cho vay bằng vàng và chuyển đổi vàng sang VND.

Cụ thể, ở thời điểm cuối quý 2/2011, có khoảng 44,5 tấn vàng đã được cho vay, là quy mô dư nợ bằng vàng lớn nhất trong quá khứ. Quy mô này tương đương với khoảng 45 nghìn tỷ đồng quy đổi theo giá vàng cuối quý 2/2011 - một mức độ mà sau này bị bóc đi, góp phần giải thích cho tăng trưởng tín dụng hệ thống năm 2012 ở mức thấp.

Trong khi đó, liên tục từ quý 4/2011 cho đến quý 2/2012 là giai đoạn cao điểm các ngân hàng chuyển đổi vàng sang VND. Chỉ tính riêng ba ngân hàng lớn là ACB, Eximbank và Sacombank, quy mô ở hoạt động này đã gần 50 tấn. Ở đây có một yếu tố quan trọng, là thời điểm họ bán ra bình ổn theo sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước, với Thông tư số 32 cùng nhóm được gọi là G5+1.

Cũng lưu ý rằng, chính trong giai đoạn cao điểm chuẩn bị ngừng huy động và cho vay, các ngân hàng lại đẩy mạnh cho vay và chuyển đổi, thì cũng là quãng giá vàng chạy chóng mặt (từ khoảng 37 triệu đồng/lượng lên tới gần 48 triệu đồng/lượng). Rủi ro lớn bộc lộ, cả với ngân hàng lẫn khách vay vàng. Nhức nhối vốn vàng một thời càng được đẩy cao.

Một lãnh đạo chuyên trách của Ngân hàng Nhà nước từng nêu quan điểm rằng: vàng là một nguồn lực lớn, không thể phủ nhận những giá trị tích cực. Song đã có quá nhiều rủi ro bộc lộ, nhất là khi lệ thuộc vào biến động khó lường của thị trường thế giới. Mức độ sử dụng vốn vàng lớn gắn với rủi ro gia tăng càng gây áp lực tới an toàn hệ thống, nhất là về thanh khoản và lãi suất. Và một khi hệ thống ngân hàng bất ổn, kinh tế vĩ mô càng khó ổn định.

Ngoài rủi ro về giá, an toàn thanh khoản hệ thống từng ở tình trạng báo động khi có sự mất cân đối quá lớn trong cơ cấu kỳ hạn huy động - cho vay vàng. Vốn vàng huy động rất ngắn, chủ yếu chỉ từ 1 - 3 tháng, dài hơn có thể 6 tháng, trong khi lại được dùng cho vay nhiều khoản dài tới 5 năm, 10 năm, thậm chí tới 20 năm. Chênh lệch bình quân kỳ hạn giữa huy động và cho vay vàng từng được thống kê lên tới 3 năm!

Vốn quá ngắn, cho vay quá dài dễ dẫn tới rủi ro thanh khoản. Đây cũng là bất cập chính khiến quá trình bóc tách vốn vàng ra khỏi hệ thống, hay tất toán trạng thái trở nên phức tạp trong thời gian qua. Hay là bất cập mà Ngân hàng Nhà nước nhắm đến để loại trừ.


Với thực trạng trên, khi phải tất toán các khoản cho vay bằng vàng, các NH phải chịu rủi ro về giá. Họ không phải tất toán dư nợ, nhưng phải tất toán vốn vàng huy động đã sử dụng để cho vay. Dữ liệu tập hợp cho thấy, đến cuối quý 1/2013, tổng dư nợ bằng vàng của 18 ngân hàng vẫn còn gần 15 tấn. 

Giả sử cuối quý 1/2013, họ phải dồn mua khoảng 15 tấn đã cho vay chưa đáo hạn đó với giá 43 - 44 triệu đồng/lượng. Sau này dư nợ vàng lần lượt trở về, trở thành tài sản trực tiếp của họ, xu hướng giá giảm đang thể hiện và thực tế rơi về quanh 38 - 39 triệu đồng. Rủi ro, hay lỗ là hiện hữu. Nếu có thể trì hoãn, vốn vàng cho vay dần đáo hạn thì sẽ bớt áp lực. Thực tế, đến cuối quý 2/2013, tổng dư nợ bằng vàng đã giảm xuống chỉ còn khoảng 7,2 tấn (có thể một phần đã được đàm phán với khách hàng chuyển sang thành khoản vay bằng VND).

Một rủi ro nữa là chi phí để mua vàng tất toán. Từ trong năm 2012 cho đến quý 1/2013, ước tính 18 ngân hàng đã dồn sức mua được 100 tấn. Dễ thấy một thời gian dài một số thành viên yết giá mua vào gần như san bằng giá bán, ý là quyết mua cho được. Bản thân họ cũng quyết liệt cho tất toán trạng thái, song với nhu cầu lớn như vậy, nguồn cung trên thị trường trở nên cạn kiệt, nhất là khi đã ngừng nhập khẩu suốt hai năm qua.

Rủi ro chi phí ở đây là lực cầu lớn từ tất toán thường trực, tình thế phải mua càng kích thích giá cao trên thị trường. Với một thị trường rất nhạy cảm, chỉ cần xuất hiện giao dịch mua vào cỡ 500 - 1.000 lượng đã có thể kích thích giá. Điều này cũng góp phần giải thích vì sao chênh lệch giá trong nước so với thế giới doãng rộng và kéo dài.

Rồi ngày 28/3, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu tổ chức đấu thầu vàng miếng, nguồn cung mới được mở ra, song cũng chưa hết căng thẳng.

Chi phí cơ hội

Có nguồn cung đấu thầu, 18 ngân hàng vào cuộc nước rút tất toán. Thực tế, sau 30/6 vẫn còn hai trường hợp phải cần thêm một tuần nữa mới hoàn tất.

Theo dữ liệu Ngân hàng Nhà nước công bố tuần qua, có khoảng 30 tấn vàng qua đấu thầu được mua để tất toán, tức phải dùng khoảng 30 nghìn tỷ đồng. Với những ngân hàng lớn và vốn khá dồi dào như ACB, Eximbank, Sacombank…, nguồn đối ứng không gây khó khăn. Nhưng hai trường hợp trên cả một vấn đề.

Nếu dồn lực tiền đồng để mua cho đủ vàng, khó khăn thanh khoản là rủi ro được tính đến. Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét hỗ trợ bằng tái cấp vốn, song cái giá đổi lại không dễ chịu, họ sẽ rơi vào diện bị kiểm soát (dù khác với diện bị kiểm soát đặc biệt). Trong khi đó, vay trên liên ngân hàng cũng không dễ, bởi ngân hàng bạn dè chừng… Thế nên, phải một tuần sau mốc hẹn 30/6 họ mới thu xếp xong.

Ở tình hình chung, điểm thuận lợi là, xuyên suốt quá trình tất toán trạng thái vàng, Ngân hàng Nhà nước đã bám sát và điều hòa nguồn tiền ở các kênh bơm - hút. Điều này giúp kiểm soát và hạn chế những tác động có thể gây tổn thương thanh khoản hệ thống, cũng như tránh những áp lực hay xáo trộn lãi suất trên thị trường.

Nhưng, với 18 ngân hàng đó, rủi ro ở đây là chi phí cơ hội trong sử dụng vốn. Ước tính ở giai đoạn nước rút tất toán, có trên 100 nghìn tỷ đồng buộc phải dồn để mua vàng, thay vì để đầu tư cho các kênh kinh doanh khác. Nói là “cắn môi” với sự ra đi của vốn vàng một phần cũng nằm ở đây. Dĩ nhiên, trước đây vốn vàng cũng đã cho họ nhiều cơ hội tạo lợi nhuận, nay có lẽ là một sự đổi lại mà thôi (?).

Ở khía cạnh khác, “may mà” hơn 100 nghìn tỷ đồng đó đã mua được vàng trong nước, nếu không thì đã có ít nhất 5 tỷ USD chảy ra ngoài để nhập về cho tất toán.


 Trước đây các ngân hàng huy động vàng vì có thể dùng 30%-40% số vàng huy động này chuyển đổi thành tiền để cho vay, mang thế chấp cho ngân hàng khác hoặc bán lấy tiền ngắn hạn cho mục đích khác. Nay NHNN cấm việc này đồng thời yêu cầu phải trả đúng số seri vàng mà người dân đã gửi. Điều này khiến ngân hàng không thể kiếm lợi “khủng” nữa.

Theo: http://vneconomy.vn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét