Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Dòng tiền chảy mạnh vào TTCK

Lãi suất tiền gửi ngân hàng giảm mạnh (kỳ hạn 1 tháng chỉ còn 6,5%, lãi suất 3 tháng 6,8%/năm, kỳ hạn 1 năm là 8%/năm) chính là nguyên nhân khiến dòng tiền chảy mạnh vào TTCK Việt Nam thời gian gần đây.

IVS: Công ty Nguyên Hà Á Châu mua thêm hơn 745.000 CP và thành cổ đông lớn


Mở cửa phiên giao dịch sáng 24/02, VN-Index tăng 2,34 điểm lên 572,91 điểm trong khi HNX-Index tăng 0,33 điểm lên 80,5 điểm.

Sáng nay MSN tăng 1.500 đồng/cp, GAS tăng 500 đồng, CSM tăng 700 đồng, HPG tăng 400 đồng, VIC, BVH đứng giá.

Tại nhóm penny và midcap, thông tin xoay quanh gói kích cầu BĐS 100.000 tỷ đồng được ông Lê Xuân Nghĩa phát biểu tại buổi hội thảo cuối tuần trước cũng kích thích các cổ phiếu BĐS tăng giá trở lại. DIG, BCI tăng 600 đồng, DXG tăng 200 đồng, BBC, CIG, CMG, DRH, FDC tăng trần, HBC tăng 700 đồng.

Bên sàn Hà Nội, CMI tăng 1.000 đồng, NAG dư mua trần 384 nghìn cp, NBC tăng 400 đồng, nhóm cổ phiếu dầu khí có xu hướng tăng mạnh, đặc biệt là các cổ phiếu thị giá thấp như PV2, PVV tăng trần, PVX tăng 200 đồng, VCG tăng 300 đồng, PVX, VND giảm 100 đồng.

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Toàn cảnh Ngân hàng 2013

1. Tăng trưởng tín dụng hơn 10% - thấp nhưng chất
Năm 2013 dự kiến khoảng hơn 10%, chỉ bằng 1/3 so với thời kỳ 2009. Tuy mức tăng này không cao nhưng theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đảm bảo chất lượng và tín dụng tăng rất sát với tăng GDP. Đây cũng là yếu tố quan trọng để hạn chế dòng tiền trong lưu thông, không chạy theo mục tiêu cho vay bằng mọi giá. Từ đó, hạn chế tác động bất lợi đối với lạm phát. Tuy không cán “đích” tăng trưởng 12% nhưng kết thúc năm, giới ngân hàng có vẻ hài lòng với “vành đai an toàn này”.
2. Lãi suất giảm nhanh bằng giai đoạn 2005-2006
Lãi suất đã được điều hành theo hướng giảm dần, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và biến động của lạm phát, góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Mặt bằng lãi suất VND đã giảm khoảng 2 - 5% so với đầu năm, trong đó, lãi suất huy động giảm 2 -3%/năm, lãi suất cho vay giảm 3 - 5%/năm và đã trở về mức lãi suất của giai đoạn 2005 - 2006. Lãi suất cho vay phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức thấp 7-9%/năm, trong đó khách hàng tốt lãi suất cho vay chỉ 6,5 - 7%/năm; lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 9 - 11,5%/năm. 3.
Tỷ giá giữ lời, vàng ổn định Thị trường ngoại hối tiếp tục có một năm ổn định tỷ giá ở mức tăng chỉ 1,3% nếu so với tỷ giá USD/VND với mức tăng không quá 2-3%, kết thúc năm, đặc biệt là nguồn lực dự trữ ngoại hối tiếp tục được củng cố (ước tính đạt trên 30 tỷ USD).
Thị trường ngoại tệ tự do gần như không còn hoạt động, tình trạng đô la hóa được khắc phục căn bản, quan hệ huy động- cho vay ngoại tệ được chuyển hóa dần sang quan hệ mua - bán ngoại tệ; Quản lý thị trường vàng sau một thời gian chịu nhiều “điều tiếng” và áp lực hiện đã đi vào ổn định. Mạng lưới kinh doanh, mua- bán vàng miếng mới có quản lý của Nhà nước được thiết lập, hoạt động thị trường vàng đi vào ổn định.

Toàn cảnh Ngân hàng 2013 - 1
Năm 2013, lãi suất, vàng, tỷ giá đã ổn định. Ảnh: Như Ý, Trình bày: Hoàng Thủy
Ngày 31/12 hôm nay, phiên đấu thứ 76 chính thức ghi nhận sự thành công của NHNN. Ngoài đảm bảo nguồn cung cho thị trường, quản lý vàng năm qua đã không để xảy ra bất cứ một đợt sốt giá hay biến động căng thẳng nào.

4. Mối lo sở hữu chéo
Tại diễn đàn kinh tế Mùa thu 2013, các chuyên gia đã lên tiếng cảnh bảo về tình trạng sở hữu chéo. Sở hữu chéo (còn gọi là vốn ảo) trở thành “ca khó” gây nên tình trạng nợ xấu khó kiểm soát và tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro. Đây cũng là nguyên nhân NHNN phải thành lập VAMC. Tham khảo: Sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam.

5. Công ty xử lý nợ xấu VAMC ra đời
“Kỳ họp vừa qua, đa số đại biểu Quốc hội đánh giá rất tích cực thành quả NHNN đã đạt được. Hai năm trước, hệ thống ngân hàng đứng trước nguy cơ đổ vỡ. Nhưng đến nay, NHNN không còn dùng nhiều biện pháp hành chính can thiệp vào thị trường.
Lãi suất huy động đã được thả nổi lãi cho kỳ hạn từ 6 tháng. Còn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh sự phối hợp giữa UBND với NHNN chi nhánh đã được thực hiện rất tốt”. Ông Trần Du Lịch - Phó đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hồ Chí Minh nói tại Hội nghị NHNN TP ngày 27/12/2013 Sau thời gian khá dài tranh luận và dự liệu, cuối cùng mô hình xử lý nợ thành lập công ty khai thác và quản lý tài sản (VAMC) đã ra đời.
Tuy VMAC không phải là cây đũa thần” nhưng với việc bắt đầu mua lại nợ xấu của các TCTD từ tháng 10/2013, tác động của VAMC lên bản cân đối sổ sách các ngân hàng rõ rệt. Đến cuối tháng 11/2013, tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo của các tổ chức tín dụng là 4,55%, chỉ tăng 19% so với mức tăng tới 67% cùng kỳ 2012. Năm nay hệ thống ngân hàng tự xử lý được 70 nghìn tỷ đồng nợ xấu từ nguồn trích lập dự phòng rủi ro.
Bên cạnh đó, VAMC đã mua 32 nghìn tỷ đồng và còn vài ngày nữa sẽ đảm bảo mua 35 nghìn tỷ đồng như mục tiêu đề ra.
6. Tiếp tục tái cơ cấu và sáp nhập
Cùng với việc hợp nhất giữa PVFC với Western Bank thành PVcomBank, điểm khác biệt trong năm 2013 là sự kiện sáp nhập DaiABank vào HDBank - hai ngân hàng được đánh giá an toàn, lành mạnh và không nằm trong diện phải tái cơ cấu bắt buộc.
Sự kiện này có thể mở đầu cho một xu hướng sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng nhỏ và tầm trung thành những định chế lớn hơn. Bên cạnh, câu chuyện thoái vốn ngoài ngành của các Tập đoàn Nhà nước trong đó không ít là cổ phiếu ngân hàng cũng sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến lộ trình tái cơ cấu.

7. Thất bại của gói 30.000 tỷ
Tháng 5/2013 gói 30.000 tỷ đồng cho vay hỗ trợ nhà ở mới ra đời. Gói này được kỳ vọng sẽ giải cứu thị trường bất động sản. Tuy nhiên, thay cho dự báo giải ngân 15.000 - 17.000 tỷ đồng ngay trong năm 2013, sau 6 tháng số tiền giải ngân chiếm chưa tới 2%, khiến gói này được báo giới đánh giá thất bại trong năm 2013. Cái khó, chính là điều kiện cho vay được “siết” khá chặt. Vốn dĩ giới nhà băng không nhiệt tình lắm với việc giải ngân này bởi khá nhiều DN bất động sản muốn vay thực ra không còn khả năng hấp thụ hay chính xác là trả nợ.
8. Hết thời lãi khủng, giảm lương thưởng
Năm 2013, ước tính có khoảng 17% tổ chức tín dụng thua lỗ. Lợi nhuận của toàn hệ thống lũy kế 11 tháng 2013 đạt 29.500 tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm ngoái, nhưng so với 2010 và 2011 thì chỉ bằng 53-64%. Đi kèm với bức tranh kinh doanh ảm đảm đó, thời hoàng kim thưởng Tết tiền tỷ, tiền trăm triệu của các ngân hàng cũng không còn. Năm nay, không phải ngân hàng nào có tháng lương thứ mười ba cho nhân viên chứ chưa kể đến thêm cả chục tháng lương như thời lãi khủng. Chưa kể, khó khăn khiến một số ngân hàng đang tính đến chuyện cắt giảm nhân sự, lên tới cả ngàn người.

Theo Khánh Huyền (Tiền Phong)

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank – STB)

Nhìn chung, 2013 vẫn là năm ăn nên làm ra của Sacombank khi kết quả kinh doanh báo lãi gấp đôi năm 2012, đạt trên 2.200 tỷ đồng, tổng nợ xấu được tiết chế và trích lập dự phòng tín dụng được giảm thiểu.


Sacombank lãi khủng, nợ có khả năng mất vốn hơn 1.000 tỷ đồng
Tỷ lệ  nợ xấu tại Sacombank đã giảm đáng kể so với năm 2012, chỉ còn chiếm chưa tới 1,5% tổng dư nợ tín dụng.

Định hướng
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank – mã chứng khoán: STB) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý IV/2013 với kết quả lãi 571,4 tỷ đồng, lật ngược kết quả lỗ 583,1 tỷ đồng của cùng kỳ năm 2012. Qua đó, nâng kết quả lợi nhuận sau thuế cả năm lên gấp đôi năm trước, đạt 2.229,1 tỷ đồng (năm 2012, ngân hàng có lãi 1.002,4 tỷ đồng).

Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) tăng tương ứng từ 1.029 đồng/cp lên 2.107 đồng/cp trong năm 2013.

Trong quý IV, ngân hàng có thu nhập thuần từ lãi giảm gần 12% so với cùng kỳ, đạt 1.578,8 tỷ đồng. Trong văn bản giải trình mà Sacombank trình lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, ngân hàng cho biết, nguyên nhân khiến thu nhập lãi giảm 264,1 tỷ đồng là do thu lãi cho vay khách hàng giảm 242,6 tỷ đồng giữa lúc lãi suất giảm bất chấp dư nợ cho vay vẫn tăng trên 12.000 tỷ đồng so với quý IV/2012.

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ giảm nhưng chi phí ở mảng này giảm mạnh, do đó, hoạt động dịch vụ vẫn mang lại 173,8 tỷ đồng lãi thuần cho Sacombank, gấp 6,7 lần thực hiện quý IV/2012.

Trong khi hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư giảm lỗ xuống 70,6 tỷ đồng từ mức 255,2 tỷ đồng cùng kỳ 2012; kinh doanh ngoại hối giảm lỗ chỉ bằng 1/10 cùng kỳ, còn 287 triệu đồng, thì mua bán chứng khoán ghi nhận lỗ 45 tỷ đồng (cùng kỳ lãi 23,6 tỷ đồng).

Ngoài ra, lỗ thuần từ hoạt động khác giảm hơn 87% xuống còn 15,5 tỷ đồng; thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần cũng tăng lên 118,2 tỷ đồng (cùng kỳ lỗ 122,5 tỷ đồng).

Chi phí hoạt động lại giảm mạnh 23%  (giảm 293,1 tỷ đồng) chủ yếu do chi phí lương giảm 145 tỷ, chi phí quảng cáo giảm 113 tỷ, chi phí điều hành khác giảm 79%.

Qua đó đã khiến lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Sacombank tăng gấp 16 lần, đạt 764,7 tỷ đồng.

Do chất lượng nợ tăng nên chi phí dự phòng rủi ro tín dụng mà Sacombank phải trích lập trong quý IV/2013 đã giảm xuống đáng kể, chỉ còn 21,8 tỷ đồng (bằng 2,6% cùng kỳ, giảm 825,5 tỷ đồng). Nhờ đó, ngân hàng có tổng lợi nhuận trước thuế 742,9 tỷ đồng (cùng kỳ -800,3 tỷ đồng).

Lũy kế cả năm, Sacombank phải ghi nhận khoản lỗ 203,3 tỷ đồng từ kinh doanh ngoại hối (so mức lãi năm trước 218,2 tỷ đồng); mua bán chứng khoán kinh doanh cũng lỗ 67,8 tỷ đồng (năm 2012 có lãi 3,6 tỷ đồng).

Tuy nhiên, bù lại, thu nhập thuần từ lãi của Sacombank vẫn tăng nhẹ 2% lên 6.627,4 tỷ đồng; lãi thuần từ hoạt động dịch vụ tăng 38% lên 947,9 tỷ đồng; mua bán chứng khoán đầu tư có lãi 27,7 tỷ đồng (năm 2012 lỗ 387,1 tỷ đồng); hoạt động khác cũng có lãi thuần 96,4 tỷ đồng (năm 2012 lỗ 81,2 tỷ đồng) và thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần đạt 172,3 tỷ đồng (năm 2012 âm 83,4 tỷ đồng).

Cùng với việc lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng 25,8% lên 3.394,6 tỷ đồng thì chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong năm 2013 của Sacombank cũng giảm mạnh, chỉ bằng 32,6% năm 2012, ở mức 434,6 tỷ đồng. Do vậy, đã khiến lợi nhuận sau thuế của Sacombank tăng mạnh so với 2012.​

Đơn vị: tỷ đồng.
Đơn vị: tỷ đồng.


Quan sát BCTC của Sacombank thấy rằng, trong năm vừa rồi, huy động tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng tăng khá mạnh 22,5% lên 131.644,6 tỷ đồng. Trong khi tín dụng cho vay tăng mạnh 14,8%, đạt 110.565,8 tỷ đồng thì nợ xấu lại giảm, chỉ bằng 81,6% năm 2012. Nợ xấu giảm là một trong những nguyên nhân góp phần tăng lợi nhuận của Sacombank trong 2013.

Tính tại thời điểm 31/12/2013, ngân hàng có 1.610 tỷ đồng nợ xấu chiếm 1,46% tổng dư nợ tín dụng (tỉ lệ nợ xấu đã giảm so với năm 2012 là 2,05%). Nợ dưới tiêu chuẩn giảm mạnh, chỉ còn bằng 54,4% năm 2012 và nợ nghi ngờ cũng giảm còn bằng 55,3%. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn lại tăng lên 1.018 tỷ đồng, tăng 13,5% so với một năm trước đó và chiếm 92,1% tổng nợ xấu của ngân hàng.

Tại ngày 31/12/2013, ngân hàng có tổng cộng 10.710 nhân viên (tăng 400 người so với cùng thời điểm năm 2012).

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Kết quả kinh doanh năm 2013 ở một số ngân hàng

Laodong.com.vn - 18/02/2014

EIB bất ngờ báo lỗ, ACB lại lỗ nặng


Tuy nhiên, trong năm 2013, đặc biệt là quý cuối năm, nhiều ngân hàng gây bất ngờ lớn khi lợi nhuận giảm sút, thậm chí lỗ nặng như trường hợp lần đầu báo lỗ kể từ khi niêm yết của Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu VN - Eximbank (EIB) hay lặp lại quý IV/2013 thua lỗ đối với Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB).

Cả hai ngân hàng này đều sụt giảm mạnh thu nhập lãi thuần trong quý IV/2013 với tỉ lệ trên 40% so với cùng kỳ năm trước. Khoản thu nhập thuần từ lãi của EIB và ACB lần lượt đạt 494 tỉ đồng và 887 tỉ đồng. Bên cạnh đó, EIB và ACB cũng lỗ 230 tỉ đồng và 34 tỉ đồng từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng trong quý IV cũng như lỗ tổng cộng 78 tỉ đồng và 114 tỉ đồng cả năm 2013. Được biết, ngày 30.6.2013 là thời hạn các ngân hàng phải tất toán trạng thái vàng, đây cũng là nguyên nhân gây ra khoản lỗ hơn 1.860 tỉ đồng trong năm 2012 trước đó của ACB. Việc thua lỗ trong hoạt động này của ACB không quá lạ lẫm khi năm trước ngân hàng đã gây cú sốc lớn. Nhưng đối với EIB, ngân hàng gây ra không ít choáng váng khi sau 17 quý niêm yết trên sàn chứng khoán, lần đầu tiên EIB báo lỗ đến 222 tỉ đồng sau thuế.

Hay như Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NVB) chỉ lãi sau thuế vỏn vẹn 14 tỉ đồng trong quý IV/2013 và 24 tỉ đồng trong năm 2013. Còn Techcombank cũng công bố chỉ lãi 96 tỉ đồng trong quý IV/2013 và 659 tỉ đồng trong cả năm 2013.

"Ông lớn" cũng giảm lãi

VCB vừa công bố lợi nhuận sau thuế hợp nhất năm 2013 đạt hơn 4.370 tỉ đồng, giảm 1,1% so với năm trước. Thu nhập thuần từ lãi hợp nhất trong năm của Vietcombank giảm 1,4% so với năm 2012 xuống mức 10,793 tỉ đồng. Tuy nhiên, chi phí hoạt động và dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng đều tăng lần lượt 3% và 7% lên 6.214 tỉ và 3.545 tỉ đồng. Do đó, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng giảm 20 tỉ đồng xuống 5.744 tỉ đồng, tương đương 99% kế hoạch năm (5.800 tỉ đồng). Riêng trong quý IV/2013, Vietcombank đạt 1.344 tỉ đồng, tăng 27% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến cuối năm 2013, huy động khách hàng của Vietcombank ở mức 330.306 tỉ đồng, tăng 16% so với đầu năm. Cho vay khách hàng tại ngân hàng này cũng tăng 14% lên 274.314 tỉ đồng.

Trong năm 2013, lợi nhuận sau thuế của CTG đạt gần 5.810 tỉ đồng, giảm 6% so với năm trước. Thu nhập thuần từ lãi hợp nhất trong năm 2013 của Vietinbank đạt 18.276 tỉ đồng, giảm nhẹ so với 2012. Bên cạnh đó, lãi từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng tăng 20% lên 1.527 tỉ đồng. Lợi nhuận trước thuế của Vietinbank đạt 7.752,5 tỉ đồng, giảm 5% so với năm 2012 và vượt 3% kế hoạch đã điều chỉnh (7.500 tỉ đồng). Trong năm 2013, ngân hàng đạt gần 5.810 tỉ đồng lợi nhuận sau thuế, giảm 6% so với năm trước. Riêng trong quý IV/2013, lợi nhuận sau thuế của ngân hàng đạt 502 tỉ đồng, giảm 63% so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý IV/2013, lãi từ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng BIDV giảm 15% về còn 78 tỉ đồng nhưng hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và đầu tư chứng khoán mang lại mức lợi nhuận 168,33 tỉ đồng và 909,24 tỉ đồng, tương ứng tăng lần lượt 1,6 lần và 154 lần so với quý IV/2012. Tương ứng là khoản mục chứng khoán kinh doanh tính đến cuối năm của BIDV giảm mạnh từ 4.232 tỉ xuống còn 1.590 tỉ đồng. Chi phí hoạt động của ngân hàng vẫn ở mức cao là 2.743 tỉ đồng, tăng 19%, bên cạnh đó, trích dự phòng rủi ro tín dụng 2.514 tỉ đồng, tăng 145% là nguyên nhân đưa lợi nhuận sau thuế về mức còn 945 tỉ đồng, giảm nhẹ 1,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế cả năm 2013, lợi nhuận sau thuế ở mức 4.046,5 tỉ đồng, tăng 57%, tương ứng 86% kế hoạch lợi nhuận cả năm (4.720 tỉ đồng).

Nợ xấu, mất vốn tăng cao

Đáng chú ý trong báo cáo của các ngân hàng đợt này là tỉ lệ nợ xấu và nợ có khả năng mất vốn lại có dấu hiệu tăng cao ngay cả đối với các ông lớn trong ngành ngân hàng như Vietcombank, BIDV,... Tỉ lệ nợ xấu của Vietcombank tăng từ 2,4% lên 2,63%, trong đó nợ có khả năng mất vốn cao gấp đôi năm trước với gần 3.000 tỉ đồng. Vietinbank và BIDV giảm tỉ lệ nợ xấu so với đầu năm xuống còn 1% và 1,87%. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là tại BIDV, mặc dù tỉ lệ nợ xấu đã giảm mạnh nhưng ngân hàng lại phát sinh nợ cho vay được khoanh và nợ chờ xử lý 1.378 tỉ đồng.

Khối các NHTMCP thì NAV vẫn là ngân hàng có nợ xấu tăng khá cao. Tỉ lệ nợ xấu của NAV vẫn ở mức cao, từ 5,64% tăng lên 6,07% vào cuối năm 2013. Các ngân hàng Techcombank và ACB cũng tăng nợ xấu lên trên mốc 3%, trong đó nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5) của ACB hơn 2.100 tỉ đồng. 

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Ba thách thức của thị trường tiền tệ năm 2014

         Theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, đã có nhiều dấu hiệu khả quan nhưng thị trường tiền tệ còn 3 thách thức lớn.


Ông nói: Tôi cho rằng, năm 2014, kinh tế có nhiều dấu hiệu khả quan hơn. Tuy nhiên, lĩnh vực tiền tệ vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết, nhất là nợ xấu, lãi suất và sở hữu chéo.
Thứ nhất, về nợ xấu, năm 2013, Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã mua một khối lượng lớn nợ xấu và sẽ tiếp tục mua nợ xấu trong năm 2014. Tuy nhiên, nhiệm vụ nặng nề của VAMC trong năm 2014 là làm sao để xử lý số nợ xấu đã mua này. Nợ xấu mà VAMC mua phần lớn là bất động sản, có cái có thể bán ngay, có những cái phải đầu tư mất 5-7 năm. Làm sao để biến nợ xấu thành nợ tốt, biến nợ thành tiền thì VAMC chưa làm được và chưa có tiền để làm được.

Ông Bùi Kiến Thành, Chuyên gia kinh tế
Ông Bùi Kiến Thành, Chuyên gia kinh tế

Thứ hai, về lãi suất, nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế mở, doanh nghiệp nội phải cạnh tranh về vốn, giá từ hai phía.


Một là, cạnh tranh với doanh nghiệp ngoài nước, vốn chỉ chịu lãi suất 1 - 2% như tại Nhật Bản, Hàn Quốc Hai là, cạnh tranh với doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, cũng có vốn ưu đãi từ công ty mẹ với lãi suất chỉ 1 - 2%, trong khi doanh nghiệp nội được ưu ái lắm cũng là lãi suất 10%.

Chúng ta không đổ lỗi hoàn toàn cho lãi suất, nhưng lãi suất là một trong những yếu tố làm điêu đứng doanh nghiệp.

Hiện nay, cộng đồng doanh nghiệp muốn mặt bằng lãi suất 6% ổn định trong dài hạn, Ngân hàng Nhà nước với vai trò là Ngân hàng Trung ương, có thể sử dụng quyền năng của mình để thiết lập mặt bằng lãi suất hợp lý.

Thứ ba, vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng hiện nay rất phức tạp. Sở hữu chéo khiến tính chất ảo trong hoạt động ngân hàng tăng lên, ngân hàng không thể kiểm soát được chính dòng tiền của mình đang vào sân trước hay sân sau. Đây là cội nguồn của nợ xấu.

Vì vậy, NHNN với chức năng là Ngân hàng Trung ương cần làm rõ cá nhân, tổ chức nào mua cổ phần tại nhiều ngân hàng vượt quá giới hạn đầu tư góp vốn 5%, 15%. Sở hữu chéo gây ra thiệt hại như thế nào thì quy rõ trách nhiệm cho từng cá nhân, tổ chức để rồi có sự thỏa thuận, khắc phục hậu quả.

Theo Thùy Liên
Đầu tư

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Agribank

Theo kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ (TTCP) tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) công bố ngày 27/1, hoạt động đầu tư tài chính của Agribank có nhiều vi phạm, không hiệu quả, trong đó có trường hợp vi phạm nghiêm trọng, mất vốn rất lớn hoặc nguy cơ thiệt hại lớn. 

TTCP cho biết, các công ty con 100% vốn của Agribank thua lỗ lớn: năm 2009 lỗ 1.782 tỷ đồng; 2010 lỗ 4.393 tỷ đồng. Đặc biệt là hai công ty cho thuê tài chính (ALC I và ALC II) có nhiều vi phạm nghiêm trọng, lỗ lớn, mất hoàn toàn vốn chủ sở hữu;

Agribank còn có các khoản đầu tư “hớ” nặng như việc đầu tư 144 tỷ đồng vào cổ phiếu CMC, thị giá 72 tỷ đồng, thế nhưng đến thời điểm 31/12/2011 giá chỉ còn trên 20 tỷ đồng.

Hay như việc đầu tư kinh doanh cổ phiếu tại Agribank chi nhánh TPHCM trong 4 năm từ 2008-2011 lỗ 46,3 tỷ đồng; đầu tư 5 triệu cổ phiếu HALAND trị giá 275 tỷ đồng chưa tuân thủ quy định, tại thời điểm 31/12/2011, trị giá cổ phiếu giảm 84 tỷ đồng so với ban đầu.

Hoạt động của Công ty Chứng khoán Agiseco cũng gây thua lỗ lớn, chưa tuân thủ quy định về quản trị, các quy trình kinh doanh.

Từ những vi phạm nêu trên, cùng với tình trạng suy giảm nhanh chóng của thị trường chứng khoán, tại thời điểm 31/12/2011, giá trị cổ phiếu nhận rerepo và exrepo (đối với cổ phiếu xác định được thị giá) thấp hơn giá trị Agriseco cho khách hàng vay 127,3 tỷ đồng.

Nội dung hợp đồng rerepo và exrepo chưa ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm thanh toán và các tài sản sản đảm bảo thanh toán của khách hàng nên đã dẫn đến nhiều thua lỗ với số lượng lớn.

Hoạt động tự doanh của Agriseco cũng không hiệu quả, nguy cơ thua lỗ với số lượng lớn là rất cao. Như tại thời điểm cuối năm 2011, Agriseco đang đầu tư 287 mã cổ phiếu với tổng giá trị ban đầu trên 576,3 tỷ đồng song giá trị theo thị giá đã sụt xuống còn 294,1 tỷ đồng (chênh lệch 282,1 tỷ đồng).

Quản lý lỏng lẻo 1.500 tỷ đồng vốn đầu tư xây dựng hàng năm

Ngoài ra, TTCP cũng chỉ ra những khuyết điểm, vi phạm của Agibank trong việc xác định quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa tại 2 doanh nghiệp trực thuộc.

Trong đó có việc CTCP Giám định thẩm định Sài Gòn vi phạm một số quy định trong xác định giá trị quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa có thể dẫn đến giảm giá trị doanh nghiệp.

Hoạt động quản lý và thực hiện đầu tư xây dựng của Agribank cũng có khuyết điểm, vi phạm ở nhiều khâu trong các giai đoạn của quá trình đầu tư với tổng số tiền sai phạm là 8,1 tỷ đồng. 

TTCP nêu rõ rằng, Agribank không tuân thủ các quy định mua nhà, đất, tài sản trên đất làm trụ sở làm việc: không lập dự án đầu tư hoặc không thực hiện theo đúng trình tự thủ tục quy định về đàu tư, dự án đầu tư không được phê duyệt; thiếu các thủ tục, điều kiện ký hợp đồng chuyển nhượng, không có ủy quyền củ chủ đầu tư theo các quy định về kinh doanh bất động sản.

Qua thanh tra nhận thấy, vốn đầu tư xây dựng (chưa kể mua sắm thiết bị và công nghệ) hàng năm tại Agribank là rất lớn (khoảng trên 1.500 tỷ đồng) nhưng lại chưa có sự quan tâm tương xứng, chưa được kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ lãng phí, thất thoát, tham nhũng lớn có thể xảy ra.

Theo TTCP, đây là vấn đề cần sớm có giải pháp đối với các ngân hàng thương mại nhà nước nói chung và Agribank nói riêng.

Trong kết luận của TTCP cũng chỉ ra tình trạng buông lỏng quản lý để xảy ra vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng tại Trung tâm Công nghệ thông tin. Đáng chú ý là khi phát hiện vụ việc đã xử lý chưa đúng quy định pháp luật.


Theo đó, hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, giả mạo, tham ô tài sản với giá trị lớn của Nguyễn Ngọc Ánh đã chiếm đoạt của Nhà nước hơn 33 tỷ đồng là rất nghiêm trọng, cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, Agribank lại xử lý thu hồi tiền chưa đủ và không chuyển cho cơ quan điều tra để truy tố trước pháp luật.

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

Công ty kinh doanh chứng khoán

1. SSI
Theo thông tin công bố tại Báo cáo quản trị công ty năm 2013 của CTCP Chứng khoán Sài Gòn (SSI), ông Nguyễn Duy Hưng - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc công ty đã tăng số cổ phiếu sở hữu từ 186 nghìn đơn vị lên 294 nghìn đơn vị SSI (tương ứng chiếm 0,08% vốn) thông qua việc mua cổ phần phát hành cho nhân viên hồi tháng 1/2013.

Mặc dù đã nâng tỉ lệ sở hữu nhưng số cổ phần mà ông Hưng nắm giữ vẫn rất khiêm tốn. Hiện tại, với mức thị giá 23.000 đồng của cổ phiếu SSI, giá trị khối tài sản của ông Nguyễn Duy Hưng trên thị trường chứng khoán thông qua nắm giữ cổ phiếu SSI là 6,8 tỷ đồng.

Trong khi đó, em trai ông Hưng là ông Nguyễn Hồng Nam - Thành viên HĐQT, Phó Tổng Giám đốc và cũng là người được ủy quyền công bố thông tin của SSI đang nắm giữ 15.771.968 cổ phiếu SSI, tương ứng tỷ lệ 4,46%.

Với mức sở hữu này, ông Nguyễn Hồng Nam đang có khối tài sản trị giá 362,76 tỷ đồng. Vợ ông Nam là bà Hà Thị Thanh Vân sở hữu 2,476 triệu cổ phiếu SSI, tương ứng 57 tỷ đồng.

Ngoài ra, vợ ông Hưng là bà Lê Trà My cùng hai con của ông Hưng không sở hữu cổ phiếu nào tại SSI. Tuy nhiên, tại SSI, công ty TNHH NDH Việt Nam do ông Nguyễn Duy Hưng làm chủ sở hữu lại có tỉ lệ sở hữu lên tới 8,11% (với 28.705.036 cổ phần). Số cổ phần này tương ứng với 660,2 tỷ đồng.

Trong tháng giao dịch đầu tiên của năm 2014, cổ phiếu SSI tăng điểm mạnh, từ mức 18.000 đồng đóng cửa phiên 2/1 lên 23.000 đồng/cp thời điểm đóng cửa phiên 27/1, tương ứng tăng giá 28%. Điều này cũng đồng nghĩa với khối tài sản của các cổ đông SSI tăng tương ứng trong cùng thời gian trên.

Năm vừa rồi, SSI có hai thành viên HĐQT mới là bà Phan Thị Thanh Bình và ông Tatsuo Akuzawa thay cho bà Đàm Bích Thủy và ông Masami Tada miễn nhiệm ngày 25/4/2013.

Theo báo cáo riêng của SSI, trong năm 2013, công ty có lãi 371,86 tỷ đồng, giảm 18% so với kết quả đạt được năm 2012. Trong khi lợi nhuận thu được từ mảng môi giới tăng 31% thì tự doanh giảm 15%, tư vấn giảm mạnh 64%.
2.