Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank)

Là doanh nghiệp duy nhất của Việt Nam và là một trong trong ba doanh nghiệp thuộc loại hình dịch vụ quy mô lớn đạt danh hiệu “World Class” của Giải thưởng chất lượng Quốc tế Châu Á – Thái Bình Dương (GPEA) năm 2013, VietinBank đã vinh dự nhận giải thưởng uy tín này vào tối ngày 6/10/2013 tại Indonesia.

Lễ trao giải thưởng đã được tổ chức long trọng tại Sanur, Bali, Indonesia và nằm trong khuôn khổ chương trình hội nghị thường niên lần thứ 19 của Tổ chức Chất lượng Châu Á Thái Bình Dương (APQO). Tham dự lễ trao giải, có sự góp mặt của Ông Shan Rupai JM, Chủ tịch Tổ chức chất lượng Châu Á Thái Bình Dương; Ông Charles Aubrey, Chủ tịch Hội đồng Giải thưởng GPEA năm 2013; Ông Toha Rosadi, Chủ tịch Hiệp hội Quản lý Chất lượng và Năng suất của Indonesia (IQPMA); đại diện của các Tổ chức chất lượng của các nước thành viên và nhiều đại diện doanh nghiệp đến từ các nước như Mỹ, Úc, Singapore, Trung Quốc, Ấn Độ, SriLanka, Indonesia, Thái lan,…
Hội đồng giải thưởng Chất GPEA năm 2013 đã chính thức công bố các Giải thưởng: World Class Award (Giải Nhất), Best Class Award (Giải Nhì) và Quest Class Award (Giải Ba) cho 17 doanh nghiệp, tổ chức đến từ các quốc gia trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Đây là một giải thưởng mang tầm quốc tế không chỉ phản ánh những bước phát triển vượt bậc của Doanh nghiệp trong việc quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng mà còn ghi nhận nhiều thành tựu của doanh nghiệp qua chiến lược tổng thể về kinh doanh, nguồn nhân lực, công nghệ thông tin, quản lý quy trình dịch vụ.
VietinBank là Doanh nghiệp Việt Nam duy nhất được Hội đồng giải thưởng trao tặng danh hiệu cao nhất “World Class” của nhóm Dịch vụ quy mô lớn cho những thành tựu và đổi mới vượt bậc trong 25 năm qua dựa trên các tiêu chí đánh giá của Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳ (Giải thưởng Malcolm Baldrige). Bảy tiêu chí đánh giá của Giải thưởng gồm có: Vai trò của lãnh đạo; Hoạch định chiến lược; Định hướng vào khách hàng và thị trường; Đo lường, phân tích và quản lý tri thức; Phát triển nguồn nhân lực; Quản lý các quá trình hoạt động; Kết quả hoạt động, kinh doanh. Ông Nguyễn Đức Thành, Phó Tổng Giám đốc đã đại diện VietinBank nhận Giải thưởng uy tín trên trước sự hoan nghênh nồng nhiệt từ Ban tổ chức và đại diện các doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương. Ông đã bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Hội đồng giải thưởng GPEA 2013 và nhấn mạnh những ghi nhận này sẽ là động lực để VietinBank nỗ lực hơn nữa trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ, phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn và góp phần vào sự tiến bộ của cộng đồng.
Với giải thưởng World Class Award (Giải nhất) từ Hội đồng giải thưởng GPEA 2013, VietinBank tiếp tục khẳng định uy tín và vị thế của một ngân hàng hàng đầu Việt Nam cung cấp sản phẩm dịch vụ theo chuẩn mực chất lượng quốc tế nhằm nâng cao giá trị cuộc sống. Trước đó, VietinBank đã đạt giải Vàng Chất lượng Quốc gia và vinh dự được Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Việt Nam đề cử tham gia Giải thưởng GPEA năm 2013. Nhằm tôn vinh các doanh nghiệp đạt giải thưởng uy tín này và quảng bá rộng rãi tới cộng đồng, Chính phủ Việt Nam sẽ trao Giải thưởng này cũng sẽ được tổ chức một lần nữa tại Lễ trao giải thưởng Chất lượng Quốc gia và Giải thưởng Chất lượng Châu Á-Thái Bình Dương năm 2013 tại Hà Nội.

Như vậy, tính đến cuối năm 2013, tổng tài sản của VietinBank đạt 576.384 tỷ đồng, tăng 14,5% và vốn chủ sở hữu đạt 54.076 tỷ đồng tăng 60,58% so với cuối năm 2012. VietinBank tiếp tục là ngân hàng có quy mô tổng tài sản và vốn điều lệ lớn nhất trong khối ngân hàng thương mại cổ phần.

Đức Linh

VietinbankSC: Năm 2013 lãi sau thuế 65 tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch sau điều chỉnh

Cafef.vn - 20/01/2014 1070

Lũy kế cả năm 2013, VietinbankSC lãi trước thuế hơn 85,5 tỷ đồng, lãi sau thuế hơn 65 tỷ đồng, giảm 10% so với năm trước. EPS đạt 840 đồng/cp.


Dòng sự kiện: Kết quả kinh doanh năm 2013 Gốm sứ Taicera báo lãi sau 3 quý lỗ liên tiếp KSD có lãi quý 4, cả năm thoát lỗ Hòa Phát: Lãi sau thuế năm 2013 hơn 2.000 tỷ đồng, vượt 68% kế hoạch năm Xem thêm » Tin mới

Cổ phiếu BIDV sẽ tác động như thế nào đến VN-Index?

VN-Index tăng hơn 10 điểm, lần đầu vượt 550 điểm sau 4 năm

24/1/2014 chính thức giao dịch cổ phiếu BIDV, giá chào sàn 18.700 đồng/cp Lũy kế cả năm 2013, VietinbankSC lãi trước thuế hơn 85,5 tỷ đồng, lãi sau thuế hơn 65 tỷ đồng, giảm 10% so với năm trước. EPS đạt 840 đồng/cp. VietinbankSC: 9 tháng lãi gần 48 tỷ sau thuế, tổng tài sản bất ngờ tăng 1.300 tỷ đồng

CTCP Chứng khoán Ngân hàng Công thương (VietinbankSC) công bố kết quả kinh doanh quý 4/2013 đạt 17,5 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 26% cùng kỳ năm trước tuy nhiên lũy kế cả năm 2013 lợi nhuận sau thuế của VietinbankSC đạt hơn 65 tỷ đồng, giảm 10% năm 2012.

Doanh thu quý 4/2013 của VietinbankSC đạt hơn 34 tỷ đồng, xấp xỉ cùng kỳ năm trước trong đó doanh thu tự doanh, tư vấn và lưu ký chứng khoán tăng mạnh, mức tăng 86%, 93% và 61% so với quý 4/2012. Riêng mảng môi giới và doanh thu khác giảm 11% và 48% trong quý 4.

Tính chung cả năm 2013, doanh thu môi giới của Vietinbank SC đạt hơn 30 tỷ đồng, giảm 20% năm 2012, doanh thu tự doanh đạt hơn 67 tỷ đồng, xấp xỉ năm trước, doanh thu tư vấn đạt 9 tỷ đồng, giảm 36% năm 2012, doanh thu khác đạt hơn 35 tỷ đồng, giảm 36% năm 2012.

VietinbankSC: Năm 2013 lãi sau thuế 65 tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch sau điều chỉnh (1)

KQKD năm 2013 của VietinbankSC (download báo cáo)

Chi phí hoạt động của VietinbankSC trong quý 4/2013 chỉ đạt hơn 4 tỷ đồng, giảm 42% cùng kỳ năm trước khiến LNTT và LNST của công ty tăng 26% so với quý 4/2012, đạt lần lượt hơn 23 tỷ và 17,5 tỷ đồng.

Lũy kế cả năm 2013, VietinbankSC lãi trước thuế hơn 85,5 tỷ đồng, lãi sau thuế hơn 65 tỷ đồng, giảm 10% so với năm trước. EPS đạt 840 đồng/cp.

Ngày 31/12/2013, HĐQT VietinbankSC đã thông qua việc điều chỉnh kế hoạch năm 2013 của công ty từ 115 tỷ đồng trước thuế xuống 85 tỷ đồng. Với kết quả đạt được, công ty đã hoàn thành kế hoạch năm sau điều chỉnh. 

Đại hội cổ đông ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank - mã CTG), diễn ra sáng 29/4, đã quyết định hàng loạt thay đổi về nhân sự cấp cao. Ông Nguyễn Văn Thắng - hiện là Tổng giám đốc VietinBank - sẽ là tân Chủ tịch Hội đồng Quản trị (HĐQT), trong khi ông Lê Đức Thọ - hiện là Chánh văn phòng ngân hàng Nhà nước và từng là Phó tổng giám đốc VietinBank - sẽ thay ông Thắng làm Tổng giám đốc. Sinh năm 1970, ông Lê Đức Thọ từng có 21 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng tại VietinBank. Ông được bổ nhiệm làm phó tổng giám đốc VietinBank từ tháng 4/2010. Trong khi đó, tân Chủ tịch Nguyễn Văn Thắng sinh năm 1973, đã công tác tại VietinBank từ năm 1996 tới nay, qua các vị trí từ cán bộ kinh doanh đối ngoại, thư ký tổng giám đốc, Phó trưởng phòng Khách hàngdoanh nghiệp lớn, giám đốc Chi nhánh Hà Nội. Ông được bầu làm tổng giám đốc từ tháng 12/2011. 

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)

(Dân trí) - Tính từ đầu năm, thông qua phát hành trái phiếu trên HNX, Ngân hàng VDB đã huy động về 28.477 tỷ đồng. Chỉ riêng ngày 10/10, ngân hàng đã đấu thầu thành công 1.080 tỷ đồng.

VDB đã vay gần 28.500 tỷ đồng bằng trái phiếu

Ngày 10/10/2013. Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) đã tổ chức phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ bảo lãnh do Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) phát hành với tổng khối lượng gọi thầu 4.000 tỷ đồng cho 4 loại kỳ hạn: 2 năm (1.500 tỷ đồng), 3 năm (1.500 tỷ đồng), 5 năm (500 tỷ đồng) và dài nhất là 10 năm (500 tỷ đồng).

Cụ thể, loại trái phiếu kỳ hạn 2 năm có 7 thành viên tham gia dự thầu, khối lượng dự thầu hợp lệ đạt 1.540 tỷ đồng. Lãi suất đặt thầu nằm trong khoảng 8,39-9,00%/năm. Kết quả, huy động được 880 tỷ đồng trái phiếu 2 năm với lãi suất trúng thầu 8,45%/năm, bằng lãi suất trúng thầu phiên trước đó (ngày 3/10/2013).

Trái phiếu kỳ hạn 3 năm có 2 thành viên tham gia dự thầu, khối lượng dự thầu hợp lệ đạt 590 tỷ đồng. Lãi suất đặt thầu nằm trong khoảng 8,65-9,50%/năm. Kết quả, huy động được 30 tỷ đồng trái phiếu 3 năm với lãi suất trúng thầu 8,65%/năm, bằng lãi suất trúng thầu phiên trước đó (ngày 3/10/2013).

Trái phiếu kỳ hạn 5 năm có 1 thành viên tham gia dự thầu, khối lượng dự thầu hợp lệ đạt 50 tỷ đồng và lãi suất đặt thầu là 9,10%/năm. Đây cũng chính là khối lượng và lãi suất trúng thầu của trái phiếu kỳ hạn 5 năm (bằng lãi suất trúng thầu phiên trước đó, ngày 11/9/2013).

Trái phiếu kỳ hạn 10 năm có 1 thành viên tham gia dự thầu, khối lượng dự thầu hợp lệ đạt 120 tỷ đồng và lãi suất đặt thầu là 9,20%/năm. Đây cũng chính là khối lượng và lãi suất trúng thầu của trái phiếu kỳ hạn 10 năm (bằng lãi suất trúng thầu phiên trước đó, ngày 18/9/2013).

HNX cho biết, kể từ đầu năm đến nay, VDB đã huy động được 28.477 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ bảo lãnh qua hình thức đấu thầu.

Mai Chi

“Tín dụng đen ở Việt Nam xấp xỉ 30% tín dụng ngân hàng”

(Dân trí) - Với tỷ lệ 30% so với tín dụng ngân hàng, quy mô tín dụng đen ở Việt Nam vào khoảng 50 tỷ USD. Nguyên nhân bùng nổ tín dụng đen chủ yếu do bên đi vay không cần phải thế chấp tài sản, còn bên cho vay thu được lãi suất cắt cổ.

Tín dụng đen chỉ là một phần trong shadow banking - vốn là hoạt động không phạm pháp.
Tín dụng đen chỉ là một phần trong shadow banking - vốn là hoạt động không phạm pháp.

Thông tin được TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và Quản lý Kinh tế trung ương đưa ra tại Hội thảo “Cải cách thị trường tài chính trong chiến lược tái cơ cấu nền kinh tế” tổ chức sáng nay (14/10) cho thấy, tín dụng đen hiện chiếm khoảng trên dưới 30% tín dụng chính chức của Việt Nam.

Theo đó, tín dụng đen là một phần trong khái niệm “shadow banking” (được hiểu là ngân hàng ngầm, tín dụng phi chính thức). Hệ thống ngân hàng ngầm tồn tại song song với hệ thống ngân hàng truyền thống và có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Theo giải thích của Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (NFSC) Vũ Viết Ngoạn thì “ngân hàng ngầm” không hoàn toàn mang nghĩa xấu. Theo định nghĩa phổ biến trên thế giới, ngân hàng ngầm là những hoạt động được phép và giống như ngân hàng nhưng chưa nằm trong khuôn khổ giám sát quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước.

Ví dụ, hoạt động cho vay qua margin, nghiệp vụ repo của công ty chứng khoán đều là những giao dịch được phép nhưng không nằm trong hoạt động ngân hàng và chưa quản lý. Đây đều là những giao dịch “shadow banking”. Ông Ngoạn cho biết, sắp tới Ngân hàng Nhà nước hoặc Cơ quan giám sát tài chính dự kiến sẽ phải có quy định cụ thể về vấn đề này.

Còn theo phân tích của ông Con English – Ban Rủi ro thuộc Nhóm hỗ trợ giám sát, Ngân hàng Trung ương Ailen thì đây là một phân khúc thị trường có thành phần tham gia hoạt động giống như ngân hàng, trừ việc không nhận tiền gửi. Các thành phần này không bị quản lý như các ngân hàng, thậm chí, trong nhiều trường hợp hoàn toàn không bị quản lý.

Dẫn ước tính của Hội đồng Ổn định tài chính, ông Con English cho biết, ngân hàng ngầm chiếm tới 25-30% toàn hệ thống tài chính và khoảng một nửa quy mô tài sản các ngân hàng.

Trao đổi với PV Dân trí bên lề Hội thảo, TS Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) lại cho rằng, cần phải phân biệt được "tín dụng đen" và tín dụng ngoài luồng, tín dụng không chính thức (informal credit). 

Theo quan điểm của ông Thành, tín dụng đen hiện được sử dụng với ý nghĩa tiêu cực, đó là những khoản cho vay với lãi suất cắt cổ, và có phần tham gia của các tổ chức tội phạm.

Do quy mô tín dụng thường tương đương với GDP của nền kinh tế. Do vậy, về tỷ lệ 30% tín dụng đen so với tín dụng chính thức, ông Thành tỏ ra băn khoăn và cho rằng, với tỷ lệ này thì quy mô tín dụng đen ở Việt Nam rơi vào con số khoảng 50 tỷ USD, là một con số quá lớn.
Theo số liệu vừa được Ngân hàng trung ương Trung Quốc công bố hồi đầu năm nay, quy mô của các ngân hàng ngầm (shadow banking) ở Trung Quốc đạt gần 30.000 tỷ nhân dân tệ (4.820 tỷ USD), tương đương hơn 50% GDP Trung Quốc năm 2012 là 51.930 nghìn tỷ nhân dân tệ (khoảng 8.340 tỷ USD).

Vay tín dụng đen để trả lãi, trả nợ ngân hàng!

Các chuyên gia, đại biểu tham gia hội thảo đều nhìn nhận, tín dụng đen nói riêng và ngân hàng ngầm nói chung để lại những hệ lụy cho kinh tế - xã hội và cần giảm bớt, hạn chế quy mô của hình thức này.

Theo đại diện từ Ngân hàng TW Ailen, việc thắt chặt quy định trong lĩnh vực ngân hàng có thể thúc đẩy các giao dịch trong ngân hàng ngầm. Tại châu Âu, khoảng 20% các khoản nợ ngắn hạn phát hành bởi Chính phủ và khu vực doanh nghiệp, 38% nợ của hệ thống ngân hàng được nắm giữ bởi các quỹ thị trường tiền tệ.

Đưa ra khuyến nghị cho Việt Nam, ông Con English nói, “nếu tồn tại khu vực ngầm, quý vị cần phải xem xét việc quản lý nó, nếu không, nó có thể là một nguồn thanh khoản khi lĩnh vực ngân hàng không hoạt động một cách đầy đủ”.

TS Võ Trí Thành lưu ý, ngân hàng ngầm không vi phạm pháp luật mà chỉ nằm ngoài luồng chính thức, nằm ngoài giám sát và người ta không xác định được vị trí dòng tiền.

Theo ông, số liệu này còn tiếp tục biến động theo thời gian. Tuy nhiên, trong một vài năm gần đây thì có vẻ như tỷ lệ này đã giảm. Nguyên nhân do thị trường khó khăn hơn, người dân cũng đã học được nhiều bài học hơn thông qua các vụ đổ vỡ tín dụng đen rúng động trên cả nước. Hơn nữa, do tín dụng đen chủ yếu chảy về bất động sản, trong khi thị trường này vẫn chưa “ấm lên” nếu không nói là còn nhiều phân khúc đóng băng. Thực tế này cũng khiến tín dụng đen thuyên giảm.

Đánh giá về hệ lụy của tín dụng đen, ông Thành  nói, phần huy động này (đặt trong khái niệm ngân hàng ngầm) có những tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội. Tác động dễ thấy nhất là việc khiến các cơ quan điều hành không kiểm soát được nguồn cung tiền, cung tín dụng một cách đầy đủ. 

Hơn nữa, khi khó khăn, tín dụng đen đổ vỡ thì sẽ không chỉ dừng lại là câu chuyện kinh tế, mà còn là vấn đề lòng tin, những vấn đề quan hệ xã hội khác. Do đó, mặc dù ghi nhận một số điểm tích cực của tín dụng phi chính thức thì trong trung và dài hạn, ông Thành cho rằng, cần phải dần dần chính thức hóa được các luồng tín dụng này.

Cho rằng, tỷ lệ 30% là tương đối cao, Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan cho rằng, thị trường ngân hàng ngầm rất dễ gây bất ổn xã hội. Ông phân tích, khi niềm tin của người dân bị thách thức với thị trường chính thống thì họ sẽ chuyển sang thị trường đen và kích thích thị trường đen phát triển. Vấn đề phải chấn chỉnh thị trường chính thống để tạo lập lại niềm tin cho người dân, chứ không thể bằng biện pháp hành chính để giải quyết được.

Ở một góc độ khác, TS Nguyễn Đức Thành lại nhìn nhận, vấn đề không nằm ở niềm tin suy giảm của người đi vay đối với hệ thống ngân hàng, mà cái chính là khó vay, thủ tục rườm ra và chủ yếu do bên đi vay không có tài sản thế chấp (sau khi đã thế chấp hết tài sản để vay ngân hàng) mới tìm đến tín dụng đen.

Hơn nữa, do tín dụng đen không có tài sản thế chấp, do đó, lãi suất cao hơn và rủi ro cũng cao hơn. Việc đòi được vốn cho vay trong tín dụng đen cũng khó khăn hơn, đó chính là nguyên nhân gây nên mất trật tự xã hội trong thời gian vừa qua.

TS Thành đề cập đến một tình trạng nguy hiểm, đó là việc các cá nhân, tổ chức vay tiền từ nguồn tín dụng đen để trả lãi, trả nợ ngân hàng. Điều này, có thể khiến nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng giảm, nhưng trên thực tế, nợ xấu của nền kinh tế không đổi, thậm chí là sẽ tăng do lãi suất tín dụng đen luôn cao hơn lãi suất ngân hàng.

Để hạn chế quy mô thị trường tín dụng đen, theo TS Nguyễn Đức Thành, ngân hàng phải rút ngắn chi phí, tăng hiệu quả trong hoạt động cho vay và bộ phận giám sát rủi ro của ngân hàng phải hoạt động tích cực. 

Điều này không đồng nghĩa với việc, ngân hàng nới lỏng điều kiện vay, ồ ạt cho vay để chạy đua với thị trường tín dụng phi chính thức, mà cần phải có quan tâm, phân tích đúng mức với các đối tượng khách hàng, làm sao chi phí quản trị giữ nguyên, tính an toàn của tín dụng cao mà tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn được đẩy mạnh.

Còn nếu là những khoản vay tín dụng đen giữa các tổ chức tội phạm với nhau hay có dấu hiệu vi phạm pháp luật, thì công tác xử lý lại thuộc về cơ quan công an.

Bích Diệp

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank)

Sáng nay 23/10, tổ chức PCI đã trao chứng nhận PCI DSS (Payment Card Industry Data Security Standard) - chứng nhận chuẩn mực về an ninh, đảm bảo an toàn cho các giao dịch thẻ cho VPBank. Đây là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam đạt được chứng nhận đạt chuẩn này.
Đại diện lãnh đạo VPBank nhận chứng chỉ PCI DSS.
Đại diện lãnh đạo VPBank nhận chứng chỉ PCI DSS.
Thông tin từ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) cho biết: Sáng nay, tại Hà Nội, VPBank đã nhận chứng nhận PCI DSS (Payment Card Industry Data Security Standard) - chứng nhận chuẩn mực về an ninh, đảm bảo an toàn cho các giao dịch thẻ từ đại diện của tổ chức PCI là công ty Control Case.
PCI DSS là một hệ thống các yêu cầu về việc đáp ứng các chuẩn mực về an ninh, chính sách, quy trình, cấu trúc mạng, hệ thống phần mềm và một số yếu tố khác, được nghiên cứu phát triển bởi Hiệp hội PCI (PCI Standards Council) - một diễn đàn mở toàn cầu bao gồm các thành viên là các tổ chức thẻ quốc tế: Visa Inc, MasterCard Worldwide, American Express, Discover Financial Services, JCB International).
Mục đích của PCI DSS là bảo đảm an toàn cho dữ liệu thẻ khi được xử lý và lưu trữ tại các ngân hàng hoặc doanh nghiệp thanh toán. PCI DSS giúp đưa ra những chuẩn mực về bảo mật thông tin thẻ và được áp dụng trên toàn cầu nhằm phát triển và triển khai các tiêu chuẩn bảo mật để bảo vệ các dữ liệu tài chính nhằm ứng dụng an toàn dữ liệu rộng rãi trên toàn cầu.
Để đạt được chứng nhận này, VPBank đã đảm bảo đáp ứng được tất cả các yêu cầu đạt chuẩn PCI DSS như: xây dựng và duy trì hệ thống quy trình nghiệp vụ công nghệ thông tin (CNTT) và nghiệp vụ thẻ đảm bảo tất cả các dữ liệu thẻ được phân loại và xử lý theo các phương thức đảm bảo tính bảo mật và toàn vẹn, tái cấu trúc, tăng cường và duy trì hệ thống mạng nội bộ, các hệ thống CNTT liên quan đến suốt vòng đời của dữ liệu thẻ, xây dựng và duy trì các hệ thống kỹ thuật chống xâm nhập, theo dõi và đánh giá hệ thống thường xuyên, chính sách bảo vệ thông tin.
Đại diện lãnh đạo VPBank cho biết: “Mặc dù không phải là ngân hàng bắt đầu dự án PCI DSS sớm nhất nhưng VPBank là ngân hàng về đích sớm nhất trong số nhiều ngân hàng đang triển khai dự án PCI DSS tại Việt Nam. Việc đạt được chứng nhận bảo mật PCI DSS đã khẳng định năng lực bảo mật nói chung, đặc biệt là năng lực bảo mật của các hệ thống công nghệ thông tin và các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến thẻ của VPBank”.
Nói về chứng nhận PCI DSS, ông Suresh Dadlani, Giám đốc vận hành của Control Case cho hay: “PCI DSS là một tiêu chuẩn nghiêm ngặt có nhiều yêu cầu kĩ thuật về sự tuân thủ và để đạt được điều đó không những VPBank cần đáp ứng chính xác về mặt năng lực mà còn cần sự phối hợp rất chặt chẽ giữa các bộ phận chức năng trong ngân hàng.
Trong quá trình triển khai và đánh giá, chúng tôi đã làm việc chặt chẽ với đội dự án của VPBank trong 12 tháng và cảm thấy rất hài lòng khi chứng kiến trình độ năng lực kĩ thuật cũng như kĩ năng thực thi của VPBank. Đây chính là cơ sở thể hiện sự đảm bảo của VPBank đối với việc bảo mật dữ liệu thanh toán qua thẻ của khách hàng”.

28/11/2013
Tờ Singapore Business Review cho biết, ngân hàng OCBC có trụ sở ở Singapore mới đây tuyên bố đã bán lại toàn bộ cổ phần 14,88% trong Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh vượng (VP Bank).

Cổ phần trên bao gồm 85.830.457 cổ phiếu phổ thông với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu của VP Bank. Bên nhận chuyển nhượng trong thương vụ này là một nhóm 3 nhà đầu tư cá nhân bao gồm bà Ngô Thu Thủy, ông Huỳnh Bá Lân, và bà Phạm Vũ Thị Như Hoàng, tờ báo cho biết.

Tờ báo trên bình luận, có vẻ như OCBC đã “không cưỡng lại được” lời đề nghị mua cổ phần của nhóm nhà đầu tư này. Ba nhà đầu tư đã tiếp cận đề nghị mua cổ phần VP Bank từ OCBC, và sau khi cân nhắc đề xuất, OCBC quyết định bán toàn bộ số cổ phần nắm giữ trong ngân hàng Việt.

Giá trị của thương vụ là 55,5 triệu USD, thanh toán bằng tiền mặt. Thỏa thuận đạt được trên cơ sở người bán sẵn sàng bán và bên mua sẵn sàng mua sau khi xem xét giá trị tài sản ròng đã được kiểm toán mới nhất của VPBank. Theo đó, tính đến ngày 31/12/2012, giá trị tài sản ròng của ngân hàng này xấp xỉ 6.637 tỷ đồng.

Theo tờ báo, vụ chuyển nhượng này được cho là sẽ không có ảnh hưởng đáng kể gì tới tài sản ròng hữu hình hay lợi nhuận tính trên mỗi cổ phiếu của OCBC trong năm tài khóa hiện tại.

Trước khi bán lại toàn bộ cổ phần VPBank, OCBC là cổ đông chiến lược nước ngoài duy nhất và lớn nhất tại ngân hàng này. Trong cả hai lần rót vốn vào VPBank, OCBC đều mạnh tay trả giá, với các mức giá đưa ra gấp lần lượt 5 lần và hơn 4 lần so với mệnh giá cổ phiếu.

Tháng 3/2006, OCBC chi ra 250 tỷ đồng để mua lại cổ phần 10% của VPBank. Khi đó, vốn điều lệ của VPBank là 500 tỷ đồng. Đến tháng 8/2008, OCBC lại chi tiếp 25,5 triệu USD, tương đương khoảng 410 tỷ đồng theo tỷ giá cùng thời điểm, để sở hữu thêm cổ phần 5% tại VPBank. Ở thời điểm đó, VPBank có vốn điều lệ hơn 2.100 tỷ đồng. Năm 2012, OCBC được thưởng hơn 10,7 triệu cổ phiếu VPBank trong đợt thưởng cổ phiếu tỷ lệ 14,25%. 

Như vậy, chi hơn 41 triệu USD và nắm giữ cổ phiếu VPBank trong vòng 7 năm, OCBC đã thu được khoản lợi nhuận hơn 14 triệu USD.

THỊ TRƯỜNG NGÂN HÀNG

Hành trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đã qua một quãng đường nhưng vấn đề sở hữu chéo và sở hữu lũng đoạn vẫn như một thách thức lớn. Dù chưa có chế tài xử lý triệt để nhưng theo các chuyên gia, cần sớm đưa các ông chủ tập đoàn tư nhân ra khỏi môi trường ngân hàng để bảo đảm các nguyên tắc và chuẩn mực hoạt động và quyền lợi cổ đông nhỏ lẻ.

Vấn đề sở hữu chéo và sở hữu lũng đoạn trong hoạt động ngân hàng được cảnh báo khoảng một năm trước đây. Và nay, chúng lại nóng hổi hơn khi tiến trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đang va vào đó như là một trở lực lớn.

Con nợ và chủ nợ là một!

Theo chuyên gia Lê Xuân Nghĩa, thành viên Ban Cố vấn Chính phủ, vấn đề đặc biệt quan trọng tiếp theo không hề đơn giản sau xử lý nợ xấu và sắp xếp lại hệ thống theo đúng chuẩn mực quốc tế trong quá trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng chính là xử lý nạn sở hữu chéo, sở hữu có tính lũng đoạn trong hệ thống ngân hàng.

Sở dĩ như vậy là bởi không ít nợ xấu ở một số ngân hàng lại thuộc về chính các ông chủ ngân hàng, hay nói cách khác, chủ nợ và con nợ được “tích hợp” trong một chủ thể. Các ông chủ này có đủ quyền lực để biến nợ xấu ngắn hạn thành nợ xấu trung dài hạn.

Đến nỗi, các nhà kiểm toán đã phải thốt lên: có nhiều tập đoàn tư nhân, rất có khả năng về dòng tiền đảm bảo cho họ có thể thanh toán những khoản nợ của mình lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng trong tương lai.

Rất có thể rằng, những khoản nợ trong các tập đoàn tư nhân ngày hôm nay đang là nhóm 1 hay 2 nhưng trong tương lai, nếu như nền kinh tế, đặc biệt là thị trường bất động sản phục hồi chậm và nhà đầu tư nước ngoài rời bỏ thị trường mua bán nợ, chúng lập tức biến thành nợ nhóm 4 hay nhóm 5.

Và sau thời gian cả nền kinh tế đang gồng mình xử lý những khoản nợ xấu của quá khứ thì một thời gian sau, lại phải đón nhận thêm những khoản nợ xấu khác.

Trên thực tế, việc áp dụng những quy định quản trị rủi ro hoặc những quy định bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ lẻ đối với các ngân hàng thuộc dạng trên gần như rất khó thực hiện, chứ chưa nói đến việc áp dụng các tiêu chí an toàn, nguyên tắc đòn bẩy tài chính hay tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo chuẩn mực quốc tế.

Biết rõ thực trạng này, Ngân hàng Nhà nước đã chuẩn bị trên dưới 10 đề án, bao gồm: các quy định chuẩn mực quốc tế về kế toán; phân loại tài sản và trích lập dự phòng rủi ro; quản trị, quản trị rủi ro; các chỉ tiêu an toàn theo Basel II; quy cách kiểm toán nội bộ; hệ thống thông tin quản lý, thay đổi chiến lược kinh doanh của từng ngân hàng thương mại.

Các chương trình này được cho là “đạn đã lên nòng” để áp dụng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống nhưng khi Ngân hàng Nhà nước vừa định thử nghiệm Thông tư 02 thì vấp phải sự kêu ca của hàng loạt tổ chức tín dụng, buộc phải hoãn thêm một năm rưỡi.

Ông Nghĩa cho biết thêm, để xử lý vấn đề này thì không thể ngày một ngày hai, thế nên, các chuyên gia trong Ban Cố vấn Chính phủ đã cảnh báo với Chính phủ rằng, hiện cơ sở pháp lý, chế tài xử lý sở hữu chéo, sở hữu lũng đoạn hiện còn thiếu, trong khi nếu hình sự hóa vấn đề này thì sẽ tác động không tốt đến hệ thống ngân hàng vốn được cho là rất nhạy cảm.

“Nhưng dù với cách nào, nếu họ vi phạm các nguyên tắc, chuẩn mực hoạt động ngân hàng thì cần phải đưa họ ra khỏi hệ thống ngân hàng, thậm chí ra khỏi hệ thống tài chính, trả họ về với tập đoàn của mình. Sắp tới, một số ngân hàng cần được xử lý theo hướng này, để tránh những cú sốc trong ngắn hạn và tổn thất do nợ xấu trong dài hạn”, ông Nghĩa nói.

Vỏ quýt dày, móng tay có nhọn?

Không phải bỗng dưng mà đại diện Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) ít nhất hai lần trong nửa năm qua tại hai hội thảo chuyên ngành, đã nêu những cảnh báo về vấn đề vốn thực ở không ít ngân hàng khi bàn đến vấn đề sở hữu chéo.

Ông Bùi Huy Thọ, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý cấp phép các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) cho biết: “Ngân hàng Nhà nước đánh giá thận trọng nguồn lực tài chính của các cổ đông khi tham gia góp vốn, mua cổ phần tại các tổ chức tín dụng để từ chối những nhà đầu tư không có đủ năng lực tài chính, sử dụng vốn vay ngân hàng để góp vốn, mua cổ phần và tham gia tái cơ cấu ngân hàng”.

Như vậy, đặt vấn đề vốn thực, được hiểu là các cổ đông lớn góp vốn vào ngân hàng không phải bằng năng lực tài chính của chính mình, thậm chí lấy cả tiền gửi của dân, diễn tấu qua nhiều bút toán “phù thủy” để biến thành phần vốn góp của mình.

Ngoài ra, để đối phó với tình trạng sở hữu chéo, sở hữu lũng đoạn như cách đặt vấn đề của ông Nghĩa, ông Thọ cũng nêu một số giải pháp tiếp theo mà Ngân hàng Nhà nước sẽ tiến hành như: xây dựng quy định về việc các khoản cho vay để góp vốn, mua cổ phần tại các tổ chức tín dụng phải loại bỏ khỏi vốn lõi khi xác định tỷ lệ an toàn tối thiểu, nhằm hạn chế tình trạng sở hữu, đầu tư chéo. Tiếp đó là tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra sở hữu chéo, đầu tư chéo để phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định của pháp luật.

Song song, Ngân hàng Nhà nước đã và đang yêu cầu các bộ, ngành, tập đoàn lớn của nhà nước triển khai kế hoạch sớm thoái vốn của các doanh nghiệp nhà nước tại các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, loại bỏ sự can thiệp dễ dãi đối với các khoản tín dụng để tránh rủi ro.

Cùng đó, tăng cường giám sát đối với các cổ đông và nhà đầu tư lớn của ngân hàng trong quan hệ tín dụng với ngân hàng để hạn chế nguy cơ chi phối của lợi ích nhóm.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng sẵn sàng mở cơ chế phối kết hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để theo dõi, giám sát chặt chẽ việc mua bán, chuyển nhượng cổ phần của các tổ chức tín dụng trên thị trường chứng khoán.

(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)

Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB)

SCB là ngân hàng đầu tiên thực hiện việc sáp nhập từ 3 ngân hàng TMCP là Sài Gòn, Đệ Nhất và Việt Nam Tín nghĩa.
Ông Võ Tấn Hoàng Văn, Phó tổng giám đốc SCB cho biết: “Đây chỉ là đợt bán nợ đầu tiên của SCB với VAMC. Từ nay đến cuối năm 2013, SCB sẽ tiếp tục bán các khoản nợ xấu còn lại để kéo tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 3%.
Việc này sẽ giúp SCB tái cơ cấu, tiếp cận và mời chào nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua lại cổ phần của SCB. Thời gian qua đã có một số ngân hàng nước ngoài đề cập với SCB về vấn đề này.

Thông tin từ Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) cho biết: Kể từ hôm nay 15/10, Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) đã bổ nhiệm ông Võ Tấn Hoàng Văn - Phó Tổng Giám đốc giữ chức vụ quyền Tổng Giám đốc thay ông Lê Khánh Hiền điều hành SCB.
Đồng thời, ngân hàng này cũng đã chấp thuận đơn xin từ nhiệm chức danh Tổng Giám đốc đối với ông Lê Khánh Hiền vì lý do cá nhân.
Trong gần 2 năm điều hành SCB, ông Lê Khánh Hiền được đánh giá là “đã có nhiều đóng góp giúp SCB nâng cao năng lực tài chính, kiện toàn hệ thống, đầu tư công nghệ và phát triển năng lực đội ngũ cán bộ nòng cốt theo đúng chiến lược chuyển đổi và phát triển của ngân hàng”.
Ông Võ Tấn Hoàng Văn tham gia vào ban lãnh đạo SCB từ tháng 7/ 2013. Trước đó, ông Văn từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc phụ trách tài chính - ngân hàng tại Công ty Ersnt & Young Việt Nam (E&Y).
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn (SCB) là ngân hàng hợp nhất từ ba ngân hàng: Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng TMCP Đệ Nhất (Ficombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank). Ngân hàng này vừa tiến hành ký kết hợp đồng bán nợ xấu có giá trị 1.800 tỷ đồng cho VAMC. Với việc bán các khoản nợ cho VAMC, SCB đã đưa tổng nợ xấu của toàn hệ thống xuống dưới 3%.


Dành 1.000 tỉ đồng cho vay xuất nhập khẩu

Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) dành 1.000 tỉ đồng cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vay theo gói “Tài trợ xuất nhập khẩu - Ưu đãi doanh nghiệp”.

SCB áp dụng lãi suất cho vay từ 9 - 13,5%/năm đối với VND, từ 4 - 7%/năm đối với vay USD; miễn, giảm một số loại phí như giảm từ 5 - 10% phí dịch vụ thu - chi hộ tận nơi bằng tiền mặt; miễn phí báo có từ doanh số nước ngoài chuyển về khi thỏa điều kiện của gói sản phẩm; “Trung tâm tư vấn giải pháp xuất nhập khẩu SCB” tư vấn miễn phí các vấn đề liên quan đến xuất nhập khẩu, tư vấn khách hàng xây dựng phương án kinh doanh phù hợp…

 - Chuyện ngân hàng thay “tướng”;

“Trái phiếu đặc biệt” có gì đặc biệt?

Điểm thứ nhất mà thị trường quan tâm trong quá trình mua bán nợ giữa VAMC và tổ chức tín dụng chính là giá mua.

Ông Lê Đức Thọ, Chánh Văn phòng Ngân hàng Nhà nước giải thích: “Giá mua nợ xấu của VAMC bằng với giá trị sổ sách khoản nợ trừ đi số dư trích lập dự phòng rủi ro chưa sử dụng”.

Ví dụ, để xác định giá mua nợ xấu của Agribank trong đợt 1 vừa qua đối với 27 khoản của 11 khách hàng, VAMC xác định: giá trị ghi sổ: 2.450 tỷ đồng, trừ đi giá trị trích lập dự phòng rủi ro chưa sử dụng gần 800 tỷ đồng nên giá mua ở đây là 1.723 tỷ đồng. Đáng chú ý là giá trị tài sản bảo đảm của các khoản nợ trên là 3.600 tỷ đồng.

Thứ  hai là vấn đề khi ký hợp đồng xong thì bao giờ các đơn vị bán nợ sẽ nhận được tiền, ông Nguyễn Quốc Hùng giải thích: sau khi ký hợp đồng khung, sẽ ký hợp đồng chi tiết với từng khoản nợ và đăng ký lưu ký trái phiếu ghi sổ mà đơn vị bán nợ được thụ hưởng tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, thời gian thanh toán tối đa là T+2 cho các đơn vị bán nợ.

“Trái phiếu đặc biệt” này chỉ có giá trị trong giao dịch tái cấp vốn với Ngân hàng Nhà nước chứ không phải lưu hành trên thị trường như đối với các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu doanh nghiệp…

Thứ  ba, xung quanh nghi ngại khoản nợ mua của VAMC thì  lớn nhưng vốn điều lệ chỉ 500 tỷ đồng, đòn bẩy tài chính quá lớn, đại diện VAMC cho rằng, đây là “trái phiếu đặc biệt”, cơ sở  pháp lý của chúng là Nghị định 53, chỉ  có giá trị giao dịch tái cấp vốn với tỷ lệ tối đa 70% với Ngân hàng Nhà nước, không có giá trị giao dịch trên thị trường thứ cấp nên không cần thiết bàn cãi về chỉ số tài chính này.

Thứ tư, VAMC có sẵn sàng bán nợ cho tổ chức tài chính nước ngoài hay không, đại diện VAMC cho biết, có  khá nhiều tổ chức nước ngoài tìm hiểu, thậm chí ngỏ lời mua hoặc ủy thác qua trung gian tài chính mua nhưng VAMC mới chỉ dừng lại ở chỗ “học hỏi” một số kinh nghiệm mua bán nợ trên thị trường quốc tế và chưa đặt vấn đề bán nợ cho họ, kể cả với đề nghị vay vốn của họ.

Đồng quan điểm này, ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch LienVietPostbank nói: “Hiện giá tài sản tương đối thấp, đặc biệt là bất động sản, nên không thể bán. Một thời gian nữa, khi nền kinh tế phục hồi, tài sản lên giá, lúc đó tổ chức tín dụng có phát mại, bán tài sản thì không bị bán với giá rẻ mạt như bây giờ. Mặt khác, sau khi bán nợ cho VAMC, tổ chức tín dụng trích lập đủ 20% thì chỉ sau 3 năm, họ sẽ có thêm một khoản kha khá và khi thị trường hồi phục, giá trị tài sản lên, họ chỉ cần bán được 80% giá trị sổ sách thì lượng thu nhập bất thường của họ sẽ rất lớn”.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank)

(Dân trí)- Chiều nay 1/10, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) đã ký hợp đồng bán nợ xấu có tổng dư nợ gốc lên tới hơn 2.500 tỷ đồng cho Công ty Quản lý tài sản và mua bán nợ Việt Nam (VAMC). Đây là ngân hàng đầu tiên bán nợ xấu cho VAMC.

Thông tin từ Công ty Quản lý tài sản và mua bán nợ Việt Nam cho biết, khoản nợ xấu của Agribank đến từ 11 khách hàng doanh nghiệp. Sau khi kiểm tra hồ sơ từ Agribank, 27 khoản nợ xấu từ 11 doanh nghiệp của Agribank có tổng dư nợ gốc là 2.534 tỷ đồng, sau khi lập dự phòng rủi ro theo quy định, tổng giá bán của 27 khoản nợ xấu trên có giá 1.723 tỷ đồng.

Theo đó, VAMC sẽ thanh toán cho Agribank bằng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành. Qua đó, Agribank sẽ sử dụng trái phiếu đặc biệt này để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước. Theo tính toán, với việc bán các khoản nợ xấu cho VAMC đợt này, Agribank giảm được 7,56% tổng nợ xấu của toàn hệ thống.
Như vậy, đây là ngân hàng đầu tiên thực hiện bán nợ xấu cho VAMC.

 Bán 2.534 tỷ nợ xấu cho VAMC, nợ xấu của Agribank mới giảm 7,56%. Như vậy, ước tính, một mình ngân hàng quốc doanh này đang gánh hơn 33.500 tỷ nợ xấu, tương đương 24% của toàn ngành.

Sau khi chính thức bán xong 2.534 tỷ đồng nợ xấu cho Công ty Quản lý và Khai thác Tài sản Việt Nam (VAMC), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn mới lần đầu tiên chính thức công bố con số nợ xấu.

Sau khi bán 24 khoản nợ có giá trị sổ sách trên 2.500 tỷ đồng này cho VAMC, nợ xấu của toàn hệ thống Agribank giảm 7,56%. Như vậy, có thể ước tính nợ xấu của ngân hàng Agribank là gần 33.519 tỷ đồng.

agribank, nợ xấu


Trong khi đó, theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến hết tháng 7/2013, nợ xấu các nhà băng tự báo cáo là gần 139.000 tỷ đồng. Như vậy, một mình ông lớn quốc doanh Agribank đang "ôm" tới 25% "cục máu đông" của toàn hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, các ngân hàng trước đây được tạm tính là dẫn đầu về tỷ lệ nợ xấu như Sài Gòn Hà Nội - SHB (trên 9%), Nam Việt - Navibank (6%), Kỹ Thương - Techcombank (5,2%) cũng chỉ "cõng" số nợ xấu bằng một phần mười của Agribank.

So với cuối năm 2012, nợ xấu của Agribank đã tăng thêm tới 5.715 tỷ đồng, tốc độ tăng tương đương 20%. So với mức tăng trưởng tín dụng 6,7% trong 8 tháng đầu năm thì nợ xấu của Agribank tăng với tốc độ nhanh gấp 3 lần.

Khối nợ xấu tới hơn 33.000 tỷ đồng lớn hơn gấp nhiều tổng tài sản của hầu hết các ngân hàng quy mô nhỏ tại Việt Nam. Thậm chí, con số này gấp chục lần vốn điều lệ của một vài nhà băng nhỏ trong hệ thống.

Dư nợ cho vay của Agribank tại thời điểm 30/8 là 512.636 tỷ đồng, bằng 6,35% tổng dư nợ của nền kinh tế tuy nhiên nợ xấu lại chiếm xấp xỉ 24% tổng nợ xấu của cả hệ thống. Điều này cũng dễ hiểu vì Agribank là ngân hàng thường được nhắc tới nhất trong các vụ bị thất thoát tài sản, cán bộ bị điều tra, xét xử, trong đó có cả vị trí cốt cán là tổng giám đốc, nhiều vụ con số thiệt hại lên tới hàng nghìn tỷ đồng.


Ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó chủ tịch Hội đồng thường trực VAMC cho biết, trước đó, Agribank đã trình VAMC 27 khoản vay của 11 khách hàng, với giá trị món nợ trung bình 50 tỷ đồng/món trong các lĩnh vực sản xuất, bất động sản, kinh doanh, nhà máy xi măng… Sau khi kiểm tra, VAMC đồng ý mua lại các khoản nợ này tại đợt 1. Tổng dư nợ gốc dự kiến bán là 2.534 tỷ đồng, tổng giá trị tài sản đảm bảo của các khoản vay là 3.638 tỷ đồng, tổng dự phòng cụ thể đã trích chưa sử dụng là 772 tỷ đồng, tổng giá bán dự kiến các khoản vay cho VAMC là 1.723 tỷ đồng.
“Việc bán các khoản nợ xấu cho VAMC sẽ giúp Agribank hạch toán giảm được 2.534 tỷ đồng nợ xấu. Số tiền này tương đương giảm được 7,5% trên tổng nợ xấu trong hệ thống Agribank”, lãnh đạo Agribank nói và chia sẻ, trái phiếu đặc biệt do VAMC thanh toán cho Agribank được sử dụng để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN), sau đó cho vay nông nghiệp, nông thôn, giúp các DN, hộ gia đình tiếp cận được nguồn vốn.
Trong số nợ bán cho VAMC, VAMC ủy quyền cho Agribank thực hiện một số hoạt động quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm, thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ; đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê tài sản bảo đảm. Đồng thời, VAMC và Agribank sẽ tạo thuận lợi hơn cho các DN phát triển sản xuất - kinh doanh, từng bước xử lý nợ xấu gắn với hỗ trợ phát triển thị trường, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng.
Bước tiến lớn, nhưng...
Đặt câu hỏi với các ngân hàng khác về việc đã có giao dịch mua, bán nợ đầu tiên của Agribank với VAMC, ngân hàng có muốn bán nợ không, câu trả lời mà ĐTCK nhận được là “vừa có, vừa không”, bởi phụ thuộc vào chất lượng nợ xấu bán đi như thế nào, quyền và nghĩa vụ của ngân hàng sau khi bán nợ như thế nào…
Tổng giám đốc một ngân hàng TMCP cho hay, các giao dịch mua bán nợ thông thường vẫn được thực hiện từ trước đến nay. Cách thực hiện như sau: bên bán (ngân hàng) chào khoản nợ xấu, bên mua sẽ đánh giá và thương lượng (chủ yếu là thương lượng về giá và quy trình chuyển giao tài sản). Sau khi đồng ý sẽ tiến hành thực hiện mua bán theo kỹ thuật thông thường.
“Mục đích của cơ chế mua bán nợ là để cắt khối nợ xấu ra khỏi ngân hàng. Các văn bản điều chỉnh hoạt động mua bán nợ gồm Nghị định 58, Thông tư 19, Chỉ thị 04 và Quy trình mua bán nợ vừa được ban hành. Tuy nhiên, các văn bản này chưa đảm bảo được nguyên tắc “thuận mua, vừa bán” thông thường và không thực sự đảm bảo việc cắt khoản nợ xấu ra khỏi ngân hàng”, vị tổng giám đốc trên nói.
Đồng quan điểm này, phó tổng giám đốc một ngân hàng TMCP phân tích: bên bán phải bán nợ; bên mua mua xong nhưng không có trách nhiệm, nghĩa vụ đến cùng về khoản nợ (vì có thời hạn 5 năm), bên bán vẫn phải tiếp tục thu nợ; bên bán phải trích dự phòng rủi ro 20%/năm, mặc dù đã bán nợ… Bên cạnh đó, các quy định về phân loại nhóm nợ và hạch toán chưa có.
“Ngân hàng tôi không có nhiều nợ xấu phải mua bán nợ theo quy định. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn mong muốn bán một số khoản nợ xấu, nếu các quyền và nghĩa vụ được đảm bảo một cách công bằng, hợp lý”, lãnh đạo một ngân hàng TMCP chia sẻ.
Ông Dominic Mellor, chuyên gia kinh tế quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) - Cơ quan đại diện thường trú tại Việt Nam nêu quan điểm, thách thức của nền kinh tế Việt Nam về cơ bản là nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Nhưng thời gian gần đây, NHNN đã có những bước đi rất tích cực sau khi bình ổn được hệ thống các NHTM. NHNN đã bơm vốn, hỗ trợ các NHTM trong việc tái cơ cấu, sáp nhập 8 trong số 9 ngân hàng yếu kém. Đặc biệt, việc thành lập VAMC và mua, bán khoản nợ đầu tiên với Agribank là một bước tiến lớn trong xử lý nợ xấu.
Tuy nhiên, ông Dominic cho rằng, để xử lý hiệu quả nợ xấu, cần trả lời được các câu hỏi: một là, lượng vốn có đủ để xử lý nợ xấu hay không, vì hiện tại chưa biết được chính xác con số nợ xấu là bao nhiêu; hai là, khoản vay không có tài sản thế chấp của DNNN như Vinashin sẽ được xử lý như thế nào, có vừa thực hiện tái cơ cấu DNNN hoặc tái cấp vốn cho các NHTM không? Ngoài ra, chuyển tài sản thế chấp sang VAMC đòi hỏi quy định, chính sách dưới luật cũng như những điều luật không nằm trong thẩm quyền trực tiếp của NHNN như Luật Phá sản, Luật Đất đai…, bởi phần lớn tài sản thế chấp là bất động sản. Bên cạnh đó, trong việc bán đấu giá, cần có cơ chế rõ ràng để định giá sát theo giá thị trường, như vậy mới thu hút được các nhà đầu tư.
“Gốc rễ của việc giải quyết nợ xấu liên quan đến tái cơ cấu DNNN. 6 tháng trước, tôi nói nhiều đến việc thúc đẩy tái cơ cấu DNNN và hệ thống ngân hàng. Cho đến hôm nay, chúng ta đã có rất nhiều thay đổi, nhiều điều để nói trong việc cải cách hệ thống ngân hàng, nhưng cải cách DNNN chưa thấy tiến triển. Chỉ riêng NHNN sẽ không thể xử lý được câu chuyện nợ xấu, mà đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các bộ, ngành khác”, ông Dominic nhấn mạnh.

NGÂN HÀNG TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB)

Tổng kết sau 1 năm ngân hàng sáp nhập đi vào hoạt động (28/8/2012-28/8/2013), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB) cho biết, một khối lượng lớn nợ xấu chuyển từ Habubank trước đó sang đã được xử lý.

Tính riêng giai đoạn 6 tháng đầu năm 2013, SHB đã xử lý thu hồi được 2.926 tỷ đồng nợ xấu thông qua các giải pháp tái cấu trúc doanh nghiệp, xử lý tài sản đảm bảo, xem xét miễn giảm lãi suất; cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ phù hợp với dòng tiền nguồn thu của khách hàng…

Cùng với một số ngân hàng khác có tỉ lệ nợ xấu cao, SHB cũng có kế hoạch bán một phần nợ xấu cho VAMC. SHB là ngân hàng trong nhóm bán nợ cho VAMC đợt 1 từ 21/9-30/10 với việc VAMC sẽ phát hành 10.000 tỷ đồng trái phiếu đặc biệt mua nợ xấu của Navibank, SCB, Agribank và SHB.

Báo cáo tài chính của SHB cũng cho thấy, tại thời điểm 30/6, nợ xấu của ngân hàng chiếm tỷ lệ 9,04% tổng dư nợ và cao hơn 0,24% so với thời điểm cuối năm 2012.

Theo lý giải của SHB, nguyên nhân nợ xấu tăng do một số khoản cho vay đồng tài trợ của Habubank trước kia với các TCTD khác đến nay quá hạn, do vậy, SHB chuyển nhóm nợ xấu theo quy định trên cơ sở của ngân hàng đầu mối. Một số khoản nợ Vinashin chuyển sang nhóm nợ xấu theo quy định phân loại nợ của NHNN.

Nhưng SHB khẳng định, những doanh nghiệp có nợ xấu (nhóm 4 và nhóm 5 phần lớn chuyển từ HBB sang) của SHB đều hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và có tài sản đảm bảo. Còn riêng đối với các khoản nợ tại Tập đoàn Vinashin và các công ty trực thuộc, SHB đã xử lý theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, đồng thời đang rà soát, lên phương án xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

SHB vẫn giữ nguyên kế hoạch, đến cuối năm, tỷ lệ nợ xấu sẽ giảm xuống thấp hơn 5%/tổng dư nợ.

Xem xét bán cổ phần cho định chế nước ngoài

Tính đến 31/7/2013, ngân hàng đã trích lập dự phòng rủi  ro đầy đủ theo quy định của NHNN với số tiền trích lập dự phòng rủi ro hơn 2.100 tỷ đồng. Việc trích lập dự phòng rủi ro lớn đã "ăn mòn" đáng kể lợi nhuận SHB nên kết thúc nửa đầu năm, lợi nhuận ngân hàng giảm 32% so với cùng kỳ, đạt 304 tỷ đồng.

Trên thị trường chứng khoán, tại thời điểm tháng 10 năm ngoái, ngân hàng đã thực hiện niêm yết bổ sung 405 triệu cổ phiếu phát hành để thực hiện hoán đổi nhận sáp nhập HBB.

Mặc dù biến động tăng/giảm giá không đáng kể, song thanh khoản của cổ phiếu này lại rất cao. Tuần trước, việc Quỹ đầu tư Market Vector Vietnam ETF (gọi tắt là quỹ VNM) công bố đưa SHB vào danh mục mới áp dụng từ ngày 23/9/2013 đã khiến giao dịch tại SHB gây “bão” trên thị trường. Khối lượng phiên giao dịch ngày 20/9 lên tới 37 triệu cổ phiếu với 25,5 triệu được “hốt gọn” trong phiên ATC.

SHB cũng cho biết, một số định chế tài chính uy tín nước ngoài đã đặt vấn đề hợp tác, mua cổ phần và ngân hàng đang nghiên cứu, xem xét.

Đóng cửa phiên giao dịch 24/9, thị giá SHB ở mức 6.700 đồng/cp.

Hiện tại, 3 chị em bầu Hiển đang sở hữu khoảng 46,5 triệu cổ phiếu SHB có giá trị khoảng 414 tỷ đồng.

Hiện tại, tại SHB, ông Đỗ Quang Hiển hiện đang nắm giữ 26.688.175 cổ phần, chiếm 3,01% vốn điều lệ ngân hàng hàng; bà Đỗ Thị Thu Hà (cũng là chị gái ông Hiển) nắm 14.838.100 cổ phần, chiếm 1,67%. Tổng cộng, 3 chị em ông Đỗ Quang Hiển sở hữu khoảng 46,5 triệu cổ phiếu SHB (chiếm trên 5% vốn ngân hàng và là nhóm cổ đông lớn của SHB). Số cổ phiếu này ứng theo giá đóng cửa của SHB ngày hôm qua trên HNX có giá trị khoảng 414 tỷ đồng. Ứng theo giá đóng cửa của SHB phiên 26/2

Như Dân trí đã đưa tin, quý IV/2013 SHB vừa công bố mức lãi sau thuế giảm 78,5% so với cùng kỳ, đạt 217,1 tỷ đồng. Tuy nhiên, lãi cả năm vẫn đạt cao 757,4 tỷ đồng, cải thiện đáng kể so mức lỗ 95,5 tỷ đồng năm 2012.

Chất lượng nợ của SHB so với thời điểm mới sáp nhập Habubank được cải thiện đáng kể, thể hiện qua chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm rất mạnh, xuống 68,5 tỷ đồng (chỉ bằng 12,4% so cùng kỳ). 

Tại thời điểm 31/12/2013, SHB có 3.103,75 tỷ đồng nợ xấu, giảm 36% so với 2012. Tuy nhiên, trong khi nợ dưới tiêu chuẩn giảm mạnh 86%, nợ nghi ngờ giảm 75,1% thì nợ có khả năng mất vốn lại tăng 22,1% lên 2.524,55 tỷ đồng (chiếm 81,3% tổng nợ xấu). Tỉ lệ nợ xấu tại SHB giảm mạnh xuống còn 4,06% tổng dư nợ tín dụng so với mức 8,51% của năm 2012. 

Ngoài ra, trong cơ cấu tín dụng của SHB còn khoản nợ chờ xử lý - Vinashin 1.201,4 tỷ đồng.

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

NGÂN HÀNG NAM VIỆT (Navibank)

Theo một lãnh đạo của Navibank, ngân hàng có chủ trương này nhưng đến hiện tại, việc bán bao nhiêu nợ cho VAMC vẫn chưa được Hội đồng quản trị ngân hàng quyết định. Ban điều hành chỉ vừa mới đề xuất các phương án xử lý nợ trong đó có phương án bán một phần nợ theo giá trị sổ sách cho VAMC.

Tuy nhiên, Navibank thuộc diện ngân hàng có nợ xấu (nhóm 3, 4, 5, tức nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên) cao hơn 3%, mức buộc phải bán nợ cho Công ty quản lý tài sản VAMC.

Navibank thuộc diện ngân hàng có nợ xấu cao hơn 3%
Navibank thuộc diện ngân hàng có nợ xấu cao hơn 3%

Hiện ông Đặng Thành Tâm có 7,1 triệu cổ phiếu NVB tương đương khoảng 2,3% vốn điều lệ Navibank. Đến ngày 30/6, các lãnh đạo Navibank chỉ nắm 0,86% vốn điều lệ nhà băng, ứng với hơn 2,6 triệu cổ phiếu NVB. 96% số này là cổ phiếu của ông Nguyễn Vĩnh Thọ - Phó chủ tịch Navibank, tương đương tỷ lệ sở hữu 0,85% và là lãnh đạo giữ nhiều cổ phiếu nhất nhà băng.

Ngân hàng này hiện có số nợ thuộc diện quá hạn, khó đòi lên tới 6,1%.


Theo thông tin từ Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) mặc dù CTCP Năng lượng Sài Gòn - Bình Định đã đăng ký bán 16 triệu cổ phần trong khoảng thời gian từ 9/9-9/10/2013 để giảm sở hữu tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank), tuy nhiên, kế hoạch này đã thất bại khi kết quả không bán được cổ phiếu nào.

Nguyên nhân không thực hiện giao dịch hết số cổ phiếu đăng ký được giải thích do tình hình thanh khoản thị trường thấp nên công ty chưa thực hiện giao dịch được. 

Tại Navibank, CTCP Năng lượng Sài Gòn - Bình Định đang là cổ đông lớn nhất của ngân hàng với tổng số cổ phần nắm giữ lên tới 29,79 triệu, chiếm tỷ lệ 10,01%. 

Trong khoảng thời gian CTCP Năng lượng Sài Gòn - Bình Định thực hiện hoạt động thoái vốn thì cổ phiếu NVB của Navibank liên tục bị đưa vào diện không đủ điều kiện giao dịch ký quỹ và diện cảnh báo.

Thanh khoản của NVB bất thường, ví dụ liên tục hai phiên 10/9 và 11/9 được giao dịch 4,4 triệu và 1,3 triệu đơn vị, song có những phiên lại chỉ giao dịch vài trăm, vài nghìn cổ phiếu, giá trị không đáng kể. Giá cổ phiếu này gần đây dao động trong khoảng từ 6.300 đến 7.500 đồng/cp.

Navibank là một trong những ngân hàng yếu kém trong diện buộc phải tái cơ cấu. Tuy nhiên, sau một năm tự tái cấu trúc thì quý II, ngân hàng này lại phát sinh lỗ 11,3 tỷ đồng, kéo kết quả kinh doanh 6 tháng thụt lùi, chỉ còn bằng 11% so với cùng kỳ 2012. Đây cũng là ngân hàng hiếm hoi báo lỗ.

NỢ XẤU

Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ - Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”.

Nợ xấu là sự tồn tại tất yếu trong hoạt động của hệ thống ngân hàng, sự tồn tại của nợ xấu chỉ thực sự nguy hiểm khi nó vọt lên ngưỡng cao hoặc bối cảnh kinh tế, tình hình tài chính hiện tại của các chủ thể trong nền kinh tế có thể đẩy nợ xấu lên mức nguy hiểm trong tương lai. Thực tế cho thấy, khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 - 1998 và khủng hoảng toàn cầu hiện nay cũng có nguyên nhân từ các khoản nợ xấu.
 
Tại Việt Nam, sau khi khối lượng nợ tồn đọng từ những năm 1990 được xử lý, tỷ lệ nợ xấu từ năm 2000 với mức 2 con số đã giảm xuống còn ở mức 1 con số. Tuy nhiên trong những năm gần đây, tỷ lệ nợ xấu đang có chiều hướng gia tăng.
Theo kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến ngày 31/3/2012 nợ xấu của các TCTD chiếm 8,6% tổng dư nợ cấp tín dụng. Trong đó, nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước là 125,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,37% dư nợ cấp tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước; nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 60,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 5,8% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần. 

Kết quả trên cho thấy, tỉ lệ nợ xấu hiện tại của Việt Nam (8,6%) là đáng lo ngại, nhưng chưa đến mức bi kịch. So với thời điểm khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, nợ xấu của các quốc gia khác còn lên đến mức 30-40%. 

Tuy nhiên, nếu không có một cơ chế để xử lý nợ xấu, khi tụ thành quy mô lớn, nó có thể sẽ nguy hại đối với nền kinh tế. Đặc biệt, khi nhìn vào điều kiện kinh tế nói chung và điều kiện kinh doanh của các ngân hàng và doanh nghiệp (DN) Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh tái cấu trúc toàn nền kinh tế đang được đặt ra thì nợ xấu nếu không được xử lý triệt để có thể sẽ bùng phát lên mức nguy hiểm.

Hiện nay, khoản nợ xấu thực tế là bao nhiêu thì không thể xácđịnh được, do nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, để hiểu bản chất thực của nợ xấu ở Việt Nam hiện nay thì cần xem xét tiến trình xử lý nợ xấu đã và đang được tiến hành thế nào.

lên tới 200.000 tỷ đồng. Trong khi nợ xấu lớn nhất thuộc nhóm các DN hoạt động dịch vụ khác với khoảng 19,5% tổng nợ xấu. Dù bị đổ tội nhiều, nhưng nợ xấu trong bất động sản chỉ khoảng 14,6%.

Ba nhóm nợ lớn nhất là xây dựng; vận tải kho bãi; mua bán sửa chữa ô tô, động cơ chiếm khoảng 40% tỷ lệ nợ xấu. Lĩnh vực công nghiệp chế tạo chiếm tới 9,9% tổng nợ xấu.

Cơ cấu nợ xấu cho thấy, DN Việt tham gia vào nền kinh tế không có cái nhìn dài hơi. Tái cơ cấu các DN Nhà nước sẽ giúp xử lý được những khoản nợ của các ngân hàng.


Một số giải pháp đã và đang thực hiện
Không để môi trường tín dụng bị đẩy đi xấu hơn nhằm ngăn chặn những diễn biến tiêu cực có thể xảy ra trước mắt, NHNN đã kịp thời ban hành nhiều chính sách để tháo gỡ khó khăn cho cả phía DN và ngân hàng. Các biện pháp này tập trung vào hai nội dung chính: thứ nhất, tăng cường khả năng tiếp cận TDNH cho các DN thông qua việc cho phép điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ nhưng không chuyển nhóm nợ, giúp các DN gặp khó khăn có thể tiếp tục vay vốn ngân hàng để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh; thứ hai, từng bước điều chỉnh giảm lãi suất (bao gồm cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay) nhằm giảm chi phí lãi vay cho các DN.
Bên cạnh đó, NHNN đã đưa ra một số giải pháp xử lý nợ xấu đồng bộ như sau:
Một là, chỉ đạo các TCTD thực hiện đúng các quy định của pháp luật về hoạt động cho vay, tỷ lệ an toàn vốn và giới hạn cấp tín dụng, không cho vay mới để trả nợ cũ với mục đích che giấu nợ cũ;
Hai là, yêu cầu các TCTD chủ động phối hợp với khách hàng vay để thực hiện việc đánh giá chất lượng và khả năng thu hồi các khoản nợ để có biện pháp xử lý phù hợp, như: Cơ cấu lại nợ một cách cách hợp lý để giảm khó khăn tài chính tạm thời cho DN, trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo quy định, thực hiện tốt việc mua bán nợ;
Ba là, chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, chia sẻ khó khăn cho doanh nghiệp thông qua giảm lãi suất tiền vay đối với cả lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác;
Bốn là, rà soát, hoàn thiện các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định về cấp tín dụng và an toàn hoạt động ngân hàng nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng;
Năm là, tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để bảo đảm các tổ chức tín dụng tuân thủ đúng các quy định về hoạt động ngân hàng, đặc biệt là quy định về cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và quy định về an toàn hoạt động tín dụng.

Ngoài ra, NHNN cũng chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để triển khai một số giải pháp hỗ trợ khác, như: triển khai các chương trình tín dụng phù hợp, đẩy nhanh tiến độ giải phóng hàng tồn kho, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời, tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước gắn với việc xử lý nợ xấu của các doanh nghiệp này; Phối hợp với các địa phương hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi nhanh, quản lý chặt chẽ và bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh...

Trên thực tế, Việt Nam đã thành lập Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn động của DN (DATC) thuộc Bộ Tài chính để thực hiện sứ mệnh giúp lành mạnh hóa tài chính của DNNN, đồng thời thúc đẩy quá trình sắp xếp và chuyển đổi DNNN. Tuy nhiên, căn cứ vào diễn biến nợ xấu hiện nay, thì chủ của các món nợ xấu không còn giới hạn trong khu vực DNNN, dù đây là thành phần cần được xử lý chính yếu. Do đó, việc xây dựng một công ty theo hướng AMC là cần thiết. Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) đã ra đời trong điều kiện này. 

Mặc dù những biện pháp này đã giúp làm dịu đi những căng thẳng trên thị trường tín dụng, nhưng không thể giải quyết tận gốc vấn đề nợ xấu đang tồn đọng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay. Nên để xử lý dứt điểm nợ xấu cần phải có những giải pháp tích cực cơ cấu lại DN, nâng cao năng lực tài chính, khả năng kinh doanh, mở rộng thị trường của DN...

 

Tính đến 24-8, đã có 15 TCTD công bố BCTC và BCTC hợp nhất H1.2013. Dưới đây là thống kê tình hình nợ xấu của 13 TCTD tính đến hết Q2.2013.

TCTD Tỷ lệ nợ xấu Tổng dư nợ (tỷ đồng) Nợ xấu (tỷ đồng)
BIDV 2,57%          364.772                  9.374,64
Vietinbank 2,10%          334.607                  7.026,75
Vietcombank 2,81%          237.612                  6.676,90
SHB 9,04%            56.641                  5.120,35
ACB 2,98%          108.787                  3.241,85
Sacombank 2,50%          107.629                  2.690,73
Techcombank 5,28%            45.455                  2.400,02
MB 2,44%            78.160                  1.907,10
VPBank 2,62%            44.524                  1.166,53
SouthernBank 2,77%            41.984                  1.162,96
Navibank 6,10%            13.018                      794,10
OCB 2,50%            16.844                      421,10
TienPhongBank 2,77%  n/a  n/a
Nguồn: Tổng hợp
Từ bảng thống kê này, tổng nợ xấu của 12 NHTM trên (trừ TienPhongBank) là gần 42.000 tỷ đồng.
Xét về tỷ lệ nợ xấu, 3 TCTD có tỷ lệ lớn nhất là SHB (9,04%), Navibank (6,1%) và Techcombank (5,28%). Tuy nhiên, BIDV, Vietinbank và Vietcombank là các NHTM có nợ xấu lớn nhất.
Các TCTD trên chiếm hơn 70% dư nợ tín dụng toàn hệ thống (VEF, 24-8).
Theo đại diện NHNN, năm 2012 và 7T.2013, các NHTM đã tự xử lý được 85.000 tỷ đồng nợ xấu. Tính đến 30-6, tỷ lệ nợ xấu của các TCTD là 4,68% tổng dư nợ (VnExpress, 6-9).

DN tài chính có tỉ lệ nợ xấu cao nhất

Thứ Ba, ngày 15/10/2013 10:08 AM (GMT+7)
Đó là ý kiến chung của các đại diện ngân hàng tại TP.HCM trong buổi làm việc với Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM khảo sát về tình hình thực hiện chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng chín tháng đầu năm 2013 vào chiều 14-10.
Thông tin Tài chính - Bất động sản, Thị trường chứng khoán, Giá vàng cập nhật liên tục và nhanh nhất
Ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP.HCM, cho biết trong chín tháng năm 2013, tổng nợ xấu chiếm gần 6% tổng dư nợ tín dụng tại TP.HCM. Trong đó, nhóm nợ có khả năng mất vốn chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng nợ xấu chiếm khoảng 69%. Phân tích của khối ngân hàng thì khối các công ty tài chính, cho thuê tài chính có tỉ lệ nợ xấu cao nhất, trên 44%; khối ngân hàng nước ngoài có tỉ lệ nợ xấu thấp nhất chỉ dưới 3%. Đặc biệt, nợ xấu tập trung vào các DN bất động sản, tiêu dùng và một nhóm nhỏ các DN nhỏ và vừa. Hiện có ba hướng giải pháp nợ xấu chủ yếu là sử dụng quỹ dự phòng rủi ro; thu nợ bằng tiền mặt và xử lý tài sản bảo đảm nợ vay.
Tuy nhiên, theo nhiều ngân hàng, xử lý nợ xấu kiểu nào cũng gặp khó khăn. Đại diện Ngân hàng Agribank - Chi nhánh TP HCM cho biết vướng mắc khâu thi hành án không xử lý được nợ xấu, mất nhiều thời gian, tài sản thì không bán được vậy là ngân hàng phải chờ, khó mà thu hồi được nợ.Ông Bùi Tấn Tài, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng ACB, cho hay hiện nay hồ sơ bán đấu giá tài sản để ngân hàng thu hồi nợ xấu kéo dài 3-4 năm có khi đến 10 năm đều xảy ra ở hầu hết các ngân hàng. Khi ngân hàng phát mại tài sản, nếu tài sản không bán được, ngân hàng muốn thu hồi tài sản đó cũng bị vướng, một số tỉnh, thành khác thì cho phép còn TP.HCM lại không.
Với tỉ lệ nợ xấu mức thấp ở thời điểm này là 1,7%, đại diện Vietcombank chia sẻ cách xử lý nợ xấu là phải thẳng tay khai tử những DN không thể sống được nữa. Còn những DN có hướng kinh doanh tốt thì sẵn sàng giúp đến cùng chứ bỏ họ nửa chừng thì ngân hàng lại mang nợ xấu.
Buổi họp cũng “nóng” lên với tình hình cho vay nhà ở xã hội với gói tín dụng 30.000 tỉ đồng khi Ngân hàng Nhà nước báo cáo số lượng khách hàng cá nhân tiếp cận được vay vốn chỉ có 137 khách hàng, số tiền giải ngân mới chỉ 22,6 tỉ đồng. Các ngân hàng đều cho biết có nguyên nhân nằm ở văn phòng công chứng không đồng ý công chứng đối với hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai do chưa có quy định về loại hình thế chấp này. Ngoài ra, việc chứng minh thu nhập thấp rất khó chứng nhận. Việc chuyển đổi công năng nhà ở thương mại thành nhà ở xã hội cũng không được cho phép.
TS Trần Du Lịch, Phó Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM, thừa nhận thủ tục hành chính hiện nay còn quá rắc rối, nhiêu khê khiến nợ xấu cũng bí cách xử lý, nhà ở xã hội cho người dân cũng triển khai chậm. Ông đồng tình với kiến nghị của các ngân hàng về hướng xử lý những khó khăn trên là kích cầu tiêu dùng, kích cầu xuất khẩu, chính sách hỗ trợ DN thì mới giải quyết được vấn đề. Từ nay đến cuối năm, các ngân hàng cần tiếp tục hạ lãi suất cho vay 2%-3%/năm, kiểm soát nợ xấu dưới 3%, cố gắng đạt mức tăng trưởng tín dụng 10%-12%

 

Số liệu của Cơ quan Thanh tra giám sát NHNN cho thấy, tính đến tháng 5/2013 tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng là 4,65%. Tuy nhiên, theo tính toán của một số tổ chức tài chính quốc tế, tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam phải gấp 4-5 lần số này.

Tính chất không đổi

Cùng với các giải pháp trợ giúp tài chính tạo điều kiện cho doanh nghiệp (DN) có tiền trả nợ ngân hàng (NH), việc thành lập một Cty mua bán nợ như mô hình VAMC là giải pháp xử lý nợ xấu được nhiều nước áp dụng. Bằng cách này, nhiều kỳ vọng cho rằng nợ xấu của các NH trên sổ sách sẽ giảm ngay. Song khi nhìn vào cơ chế vận hành của VAMC hiện nay, PGS.TS Phan Thị Thu Hà của Viện Ngân hàng Tài chính (ĐHKTQD) cho rằng, vẫn chưa thể rõ tổ chức này sẽ bán nợ xấu như thế nào.

Cơ chế hiện nay quy định, các NH khi đổi nợ xấu lấy trái phiếu VAMC vẫn phải thực hiện trích lập dự phòng 20%. Điểm tích cực với các món nợ nhóm 4 hoặc 5 chính là các NH chỉ cần trích lập 20%, thay vì 50% hay 100% như trước.

Giải pháp này dĩ nhiên sẽ giảm gánh nặng tài chính cho các NH trong 1-3 năm đầu và chưa kể số trái phiếu này có thể được chiết khấu lấy vốn kinh doanh. Song theo quan điểm của TS Hà, với tình trạng tăng trưởng tín dụng thấp như năm nay và dự đoán sang cả năm 2014, nhu cầu vốn của các NH sẽ không cao.

 Hơn nữa khi cần, dù không có trái phiếu, NH vẫn có thể huy động bằng các hình thức khác. “Như vậy, đối với các NH, vấn đề cốt lõi là có bán đứt được món nợ xấu hay không và bán được bao nhiêu?” – PGS. Hà đặt câu hỏi.

Vị chuyên gia đến từ Viện Ngân hàng Tài chính nhìn nhận, không giống như mô hình Cty mua bán nợ Hàn Quốc (Kamco), các khoản nợ xấu của TCTD khi bán cho VAMC vẫn không phải bán đứt. Trường hợp VAMC không xử lý được, các nhà băng vẫn phải tự xử lý.

Ở vế thứ hai, VAMC cũng chỉ mua các khoản nợ có khả năng bán cao (thường là có tài sản đảm bảo). Điều này đồng nghĩa với việc, bản thân các NH cũng có thể phát mại các tài sản đảm bảo này dù khả năng rất khó bán trong năm nay do thị trường bất động sản đi xuống.

 Với định hướng mua nợ như trên, bản thân các NH lớn cũng khó bán nợ cho VAMC và dễ hiểu tại các NH yếu kém, những khoản nợ có thể bán cho VAMC càng ít. Do đó, theo đánh giá của PGS.TS Phan Thị Thu Hà, dù nợ xấu có giảm, tính chất yếu kém của những NH (bán nợ) vẫn không thay đổi, tính xấu của tài sản của NH cũng như của nền kinh tế không đổi.

Cần thật đơn giản

Với các phân tích trên đây, việc xử lý nợ qua VAMC được cho phải thật đơn giản về nghiệp vụ, thu hẹp quy mô, phạm vi và chỉ áp dụng với nợ nhóm 4 và nợ nhóm 5. Bà Hà đề xuất, trái phiếu đổi nợ không sinh lãi vì nợ xấu không sinh lãi và cũng để không làm tăng thêm gánh nặng cho VAMC.

 Các NH vẫn phải trích lập dự phòng 20% và phải tìm mọi cách tự xử lý bằng các biện pháp nghiệp vụ của NH. Các nghĩa vụ giữa NH và khách hàng sẽ không thay đổi kể cả với tài sản đảm bảo. Khi chiết khấu, thời hạn tối đa 12 tháng phải trả lại NHNN và tỉ lệ chiết khấu sẽ tùy thuộc vào chính sách cung ứng tiền của NHNN và tình trạng kém thanh khoản của NH.

NH trích dự phòng đến đâu, giá trị trái phiếu giảm đến đấy và cho đến khi trích đủ 100%, giá trị trái phiếu sẽ bằng không (0). Phía VAMC, sẽ tập trung nghiên cứu để xác định hỗ trợ NH theo hướng đảm bảo thanh khoản cho NH. Cty mua nợ đồng thời cũng nghiên cứu các biện pháp bán nợ và trong trường hợp bán được nợ, VAMC sẽ hưởng phí môi giới, tư vấn bán nợ hoặc mua đứt nợ xấu của NH.

Đối tượng mua nợ cũng cần được chia làm hai nhóm. TS Phan Thị Thu Hà đưa ý kiến, VAMC không mua nợ của 5 NHTM nhà nước vì tỉ lệ nợ xấu của nhóm này vẫn thấp. Còn với các NHTM khác, VAMC ưu tiên mua đứt nợ của DNNN nếu các DN này bị phá sản, giải thể hay ngừng hoạt động theo tỉ lệ chiết khấu thỏa thuận giữa NH với VAMC. Toàn bộ quyền và nghĩa vụ đối với nợ sẽ thuộc VAMC và VAMC cần ưu tiên mua CP của các NH yếu kém để tham gia giám sát, thực hiện khẩn trương yêu cầu tái cơ cấu.

Biện pháp trên theo nhìn nhận của TS Hà trước hết sẽ dãn thời gian bán tài sản đảm bảo của NH, giảm dự phòng phải trích và giúp NH vay vốn của NHNN với lãi suất 0% với quy mô hạn chế. “Giải pháp này cũng không làm tăng quy mô hoạt động của VAMC, dẫn đến tăng chi phí vận hành chừng nào VAMC chưa chứng minh khả năng bán nợ tốt hơn NH, xác định nghĩa vụ xử lý nợ thuộc về NH và Nhà nước phải gánh một phần tổn thất từ những tài sản xấu của DNNN”.

Rào cản sở hữu chéo
Đánh giá cao về nỗ lực tái cơ cấu các NH cũng như việc thành lập VAMC để xử lý nợ, nhưng TS Lê Xuân Nghĩa, thành viên Ban Cố vấn Chính phủ, cũng bày tỏ nhiều mối lo ngại về năng lực của công ty này. Ví VAMC như một “gánh ve chai chuyên đi gom hàng” và phân loại nợ xấu, ông Nghĩa nói: “Các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài muốn mua lớn, không mua nhỏ lẻ, VAMC lại giống gánh ve chai, chưa có khả năng trả lời các NĐT này”.

 

Tuy nhiên, thách thức lớn khi xử lý nợ xấu, theo ông Nghĩa chính là rào cản sở hữu chéo. Phần lớn nợ xấu của NH là của chính các ông chủ đang sở hữu nó. Các ông chủ này đủ quyền lực biến nợ xấu thành nợ trung, dài hạn. Vấn đề xử lý nợ xấu cũ đang làm, nhưng cái đáng quan ngại là nợ xấu mới sẽ xuất hiện và tăng lên. Đặc biệt, tại các NH có các ông chủ vốn là lãnh đạo các tập đoàn lớn làm chủ sở hữu và cũng chính là con nợ. Khi tái cơ cấu, xử lý nợ các “ông này” phản ứng lại, rồi lợi ích cổ đông nhỏ cũng bị vô hiệu hóa. Rủi ro lớn nhất chính là sở hữu chéo, sở hữu lũng đoạn.
Ông Nghĩa cho biết: “Chúng tôi đã đề nghị Thủ tướng cần có lựa chọn, giải pháp khác mạnh hơn dứt khoát đưa họ ra khỏi hệ thống tài chính. Tới đây một số NH sẽ bị xử lý theo hướng này, làm như vậy để tránh tổn thất dài hạn cũng như cú sốc ngắn hạn cho chủ trương tái cơ cấu của chúng ta”.
Thừa nhận tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống đang rất phức tạp, ông Bùi Huy Thọ, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý cấp phép các tổ chức tín dụng và hoạt động NH (Cơ quan Thanh tra giám sát - NHNN), cho biết NHNN đang lên một kế hoạch chi tiết để có thể xử lý được tình trạng này. Cụ thể, tiến hành đánh giá thận trọng nguồn lực tài chính để từ chối những NĐT không có đủ năng lực tài chính, sử dụng vốn vay tín dụng để góp vốn, mua cổ phần và tham gia tái cơ cấu NH; tăng cường giám sát đối với các cổ đông và NĐT lớn của NH trong quan hệ tín dụng với NH để hạn chế nguy cơ bị lạm dụng, chi phối bởi lợi ích nhóm…
VAMC làm “biến dạng” nợ xấu
Tại hội thảo, chuyên gia kinh tế - tiến sĩ (TS) Trịnh Quang Anh bày tỏ lo ngại việc VAMC mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt, bản chất chỉ dọn nợ từ bên này sang bên kia, không làm giảm nợ xấu. Hệ lụy của nó làm biến dạng các chỉ số thống kê từ tỷ lệ nợ xấu, dư nợ tín dụng… làm méo mó hoạt động của hệ thống NH.
Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa cũng cho rằng, rủi ro của trái phiếu là không phải tiền mặt, tiền tươi, nó sẽ khiến quá trình xử lý sau này trở nên phức tạp. Còn tiến sĩ Cấn Văn Lực, Cố vấn cấp cao của HĐQT Ngân hàng BIDV, khẳng định mua nợ xấu bằng trái phiếu bản chất nợ chưa thay đổi, nợ vẫn còn đó, con nợ và tài sản đảm bảo vẫn còn đó. Vì là sáng kiến mới nên không chỉ quốc tế, mà đến VN cũng chưa có phương thức nào để hạch toán đúng trái phiếu này vào bảng cân đối tài sản các NH cho phù hợp.
Ông Simon Andrews, Giám đốc Công ty tài chính IFC khu vực VN - Campuchia - Lào và Thái Lan, bày tỏ lo ngại về con số nợ xấu thực hiện nay của VN, khi có quá nhiều cách phân loại dẫn tới khó xử lý. Chuyên gia này cho biết, các NĐT nước ngoài hiện nay vô cùng quan tâm và muốn mua lại nợ xấu của VN. “Nợ xấu không phải là chấm hết, nó thậm chí còn rất hấp dẫn, bởi còn được cơ cấu lại theo chu kỳ của nền kinh tế. Các NĐT nước ngoài rất quan tâm và muốn tham gia nhưng với điều kiện VAMC phải có cơ chế mua bán thuận lợi. Giá nợ xấu được xác định nhanh chóng, cơ chế mua nhanh và bán nhanh”, ông Andrews kiến nghị.


Ngay sau khi đã có thông tư về phương thức mua bán nợ xấu, nhiều ngân hàng đã muốn bán nợ cho Cty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC). Tuy nhiên, ngay cả hai ngân hàng từng lên tiếng trước đây là ACB và Navibank vẫn chưa cho thấy rõ họ sẽ bán nợ với con số cụ thể như thế nào?


Ngân hàng không dễ bán nợ

Chặng đường còn xa

Trong báo cáo tài chính đã công bố, hầu hết các ngân hàng đều không giải thích chi tiết lý do nợ xấu gia tăng. Đây không phải là điều bất ngờ khi kinh tế vĩ mô còn trì trệ. Nhiều DN vẫn gặp khó khăn, không bán được hàng nên khó trả nợ vay đúng hạn. Bên cạnh đó, một số ngân hàng vẫn chưa kiểm soát tốt các khoản cho vay khi chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng... Điều này cũng khiến bức tranh nợ xấu của hệ thống ngân hàng vẫn còn xám xịt.

Bên cạnh đó, nợ xấu của hệ thống ngân hàng vẫn chưa được công bố đầy đủ. Nếu áp dụng các quy định theo Thông tư 02/2013 của NHNN về phân loại và trích lập dự phòng rủi ro thì nợ xấu sẽ cao hơn hiện nay (Thông tư này đã được dời đến tháng 6.2014 mới áp dụng).

Chính vì vậy, việc bày tỏ thiện chí là một chuyện, còn bán được hay không, bán bao nhiêu nợ xấu cho VAMC, dưới góc nhìn của nhiều chuyên gia, thì vẫn còn một chặng đường xa và quan trọng là các TCTD cũng phải chủ động hợp tác, cải cách, minh bạch hoạt động để các giải pháp phát huy hiệu quả.

Theo một giám đốc NHTM ở TPHCM thì dù đã có đường hướng rõ ràng trong việc xử lý nợ xấu, nhưng thực tế có những món nợ đạt được các điều kiện của VAMC thì ngân hàng lại không có nhu cầu bán, mà giữ lại tự xử lý.

Trong khi đó, cái mà các ngân hàng chỉ muốn bán những món nợ gần như không có khả năng đòi được. Nhưng điều quan trọng là ai cũng có tâm lý muốn chờ đợi "một ví dụ cụ thể", vì dù sao cho tới nay vẫn chưa ai biết VAMC sẽ hiệu quả đến đâu.

Thêm vào đó, không phải NHTM cứ bán nợ cho VAMC là khoản nợ đó được xóa hoàn toàn. Sau 5 năm nếu không xử lý được hết nợ xấu thì NHTM phải lấy lại món nợ đó và "ôm" số nợ này. Như thế, rủi ro chính vẫn là các NHTM vì họ bán nợ đi, không biết được tái cấp vốn với tỉ lệ bao nhiêu, trong khi vẫn phải trích lập dự phòng rủi ro 20% cho các khoản nợ để giảm trừ giá trị trái phiếu. Rõ ràng với những quy định quá chặt có phần "lợi" cho VAMC như hiện nay thì phần rủi ro bán nợ vẫn thuộc về phía NHTM.

Kỳ vọng nhà đầu tư nước ngoài?

Dưới góc nhìn của một chuyên gia kinh tế, ông Nguyễn Xuân Thành - Giám đốc Chương trình chính sách công tại trường Kinh tế Fulbright - cho rằng, hiện cách xử lý nợ xấu của VAMC là giữ hộ nợ xấu của ngân hàng trong 5 năm; mỗi năm ngân hàng đó phải trích lập dự phòng 20%, tức là dùng một khoản lợi nhuận tương đương 1/5 tổng nợ xấu.

"Khi chuyển nợ xấu qua VAMC, ngân hàng cầm về trái phiếu để vay tái cấp vốn. Đó là lý do tại sao nền kinh tế không có cú hích cần thiết để thoát vòng xoáy. Nếu bây giờ muốn giải quyết khó khăn và kích hoạt được tái cơ cấu thì phải thay đổi nguyên tắc này, tức là dùng tiền thật để xử lý. Một giải pháp khác là kết hợp một nửa dùng tiền thật và phần còn lại dùng dự trữ để xử lý nợ" - ông Thành nhận xét.

Tuy nhiên, có thể thấy muốn làm như vậy thì ngân sách phải bỏ ra vài tỉ USD, trong khi với vốn điều lệ chỉ có 500 tỉ đồng, điều này là không thể. Chính vì vậy, nhiều chuyên gia cho rằng, để VAMC có thể sớm thành công vẫn cần có "chiếc chìa khóa" là bàn tay của nhà đầu tư nước ngoài.

Theo khảo sát mới đây của Công ty kiểm toán và tư vấn Grant Thornton, hiện có tới 60% các quỹ đầu tư nước ngoài được hỏi quan tâm tới việc mua bán tài sản nợ xấu tại Việt Nam. Tuy nhiên, hiện đang có nhiều rào cản. Để thị trường nợ xấu của Việt Nam được "quốc tế hóa" thì theo các chuyên gia, điều đầu tiên là phải thay đổi khung pháp lý để cho những người mua nợ có thể thanh lý được nợ, nhất là với tài sản bảo đảm của khoản nợ là bất động sản - vấn đề mà các NHTM trong nước đều ngại mỗi khi bán nợ.

Với những tài sản là bất động sản, trước đây được đánh giá cao quá mức để vay cho bằng được, nay giá đi xuống, trong khi thiếu những Cty định giá độc lập và hành xử một cách khách quan, vậy thì giá mua, giá bán như thế nào là cả một vấn đề không nhỏ. Do vậy, điều quan trọng là vẫn cần thiết phải có một đạo luật riêng về xử lý nợ xấu và một cơ chế thông thoáng hơn cho nhà đầu tư nước ngoài.

Để nhà đầu tư nước ngoài mua nợ xấu ở Việt Nam cần phải thay đổi khung pháp lý để cho những người mua nợ có thể thanh lý được nợ, nhất là với tài sản bảo đảm của khoản nợ là BĐS, và đặc biệt cần áp dụng mức giá hợp lý. Bởi khi mua được khoản nợ rồi, việc xử lý cũng gặp nhiều vấn đề về luật pháp, tính minh bạch cực kỳ thấp (DĐDN, 23-8).
Dự kiến Agribank sẽ là TCTD bán nợ nhiều nhất cho VAMC với số nợ ban đầu trên sổ sách là 10.000 tỷ đồng. Theo báo cáo Q1.2013, tỷ lệ nợ xấu của Agribank là xấp xỉ 10%. VAMC đã làm việc với đại diện của 6-7 TCTD (TBKTSG, 23-8).
Hôm nay (23-8), NHNN đã tổ chức phiên đấu thầu vàng miếng thứ 55 với tổng khối lượng trúng thầu lad 25.900/26.000 lượng vàng chào thầu. Có 17 đơn vị đã trúng thầu. Giá trúng thầu cao nhất là 37,81 triệu đồng/lượng, giá trúng thầu thấp nhất là 37,79 triệu đồng/lượng. Chiều cùng ngày, giá vàng giao dịch trên thị trường vẫn dưới 38 triệu đồng/lượng (DĐDN, 23-8).
Đến cuối 2013, tỷ lệ nợ xấu của SHB có thể về mức dưới 5% (sau khi sáp nhập Habubank là khoảng 8,8%). Trong khoản 5.000 nợ xấu hiện tại của NH này, vẫn còn dư nợ của Vinashin. Đối với các khoản cho vay này SHB đã phân loại nợ và trích lập dự phòng theo văn bản chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước (VnExpress, 23-8).
Theo BCTC Q2.2013 của LienVietPostBank, tính đến 30-6, tổng tài sản của ngân hàng đạt 78.206 tỷ đồng, tăng 11.793 tỷ đồng, tương đương 17,8% so với cuối năm 2012. Dư nợ cho vay khách hàng đạt 32.857 tỷ đồng, tăng 42,9% so với cuối năm 2012 và là tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cao nhất trong hệ thống. Huy động vốn khách hàng cũng tăng 14,3%, đạt 55.598 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng, LienVietPostBank lãi 260 tỷ, giảm 35% so với cùng kỳ 2012 (Trí Thức Trẻ, 23-8).


Theo BCTC hợp nhất của các NHTM, tổng nợ có khả năng mất vốn của 10 ngân hàng gồm ACB, Nam Việt, Phương Nam, BIDV, Eximbank, Sacombank, Vietcombank, SHB, MB, Techcombank tính đến cuối T6.2013 là 15.315 tỉ đồng, tăng 33% so với mức 11.525 tỉ đồng cuối năm 2012. Trong đó, Sacombank tăng 67%, từ mức 897 tỷ đồng lên 1.500 tỷ đồng. Ba NHTM là Nam Việt, SHB và Techcombank có tỷ lệ nợ xấu trên 3%, lần lượt là 6,1%, 9%, và 5,3% (Đất Việt, 23-8).
Do có sự thay đổi về nội dung quy phạm pháp luật giữa Luật Các TCTD 1997 và 2010 về quy định hoạt động của TCTD nên đang gây khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước và hoạt động của các TCTD, chi nhánh NHNNg. Một số NHTM phản ánh, hoạt động của họ có nguy cơ bị gián đoạn; hoặc phát sinh các thủ tục hành chính không cần thiết cho chính cơ quan quản lý Nhà nước cũng như các TCTD. Đại diện NHNN cho biết, cơ quan thanh tra giám sát đã và đang làm việc với các NHTM và lắng nghe các ý kiến đóng góp để tổng hợp, bổ sung vào Giấy phép hoạt động mới trình lãnh đạo NHNN (TBNH, 23-8).
Nhằm thoái vốn tại Techcombank, Vietnam Airlines vừa thông báo sẽ tiến hành bán 24,033 triệu cổ phần (tương đương 2,7% vốn điều lệ của Techcombank) với giá khởi điểm 12.100 đồng/cổ phiếu. Thời hạn nhận đăng ký mua từ 30-8 đến 19-9. Vietnam Airlines cũng chào bán 827.847 trái phiếu chuyển đổi Techcombank có thời hạn 10 năm. Giá khởi điểm 132.700 đồng/trái phiếu. Thời gian đấu giá là 26-9 tới (Trí Thức Trẻ, 23-8).

Hôm nay (23-8), NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai thực hiện Đề án “Xử lý nợ xấu của các TCTD” và Đề án “Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam”. Theo đó, Kế hoạch hành động đã đề ra các nội dung công việc cụ thể, giao nhiệm vụ chủ trì triển khai thực hiện từng công việc cụ thể cho các đơn vị, Vụ, Cục, chi nhánh NHNN, các TCTD, các khách hàng vay của TCTD và quy định rõ thời gian hoàn thành công việc (NHNN, 23-8).
Đầu T9.2013, Thông tư hướng dẫn hoạt động của VAMC có thể sẽ được ban hành. Thông tư này dự định sẽ đưa ra các nguyên tắc cơ bản về các phương thức VAMC có thể tiến hành mua lại nợ xấu. Thông tư được kỳ vọng sẽ cụ thể hóa các quy trình mua nợ xấu giữa các ngân hàng và VAMC thông qua phát hành các trái phiếu đặc biệt, các điều kiện trước khi VAMC thực sự mua nợ xấu theo giá thị trường và quy trình chung về bán tài sản đảm bảo, quy định về phân phối tiền thu được từ việc bán nợ xấu (Trí Thức Trẻ, 23-8).

(Dân trí) - Những khoản nợ xấu đang đè nặng các ngân hàng Việt Nam hay những ngôi nhà bị bỏ hoang tại Hà Nội là dấu hiệu của một nền kinh tế “ốm”. Nhưng với nhà đầu tư nước ngoài đó lại là một cơ hội, nếu khuôn khổ pháp lý rõ ràng.

Đây là nhận định của phóng viên Chris Brummitt của hãng tin Mỹ AP trong bài phân tích về nợ xấu tại Việt Nam trong mắt nhà đầu tư nước ngoài, cùng những mong muốn được tạo điều kiện để tham gia mua bán nợ của họ.

 

Tác giả bài báo đã phỏng vấn ông Neil Hagan, một chuyên gia xử lý nợ người Mỹ, người đang muốn mở một công ty xử lý nợ tại Việt Nam để đại diện cho các nhà đầu tư nước ngoài. Ông khẳng định hàng tuần mình vẫn nhận được những cuộc gọi từ các quỹ đầu cơ tại Singapore và Hồng Kông, đề nghị cho biết liệu đã đến lúc mua nợ tại Việt Nam.
Nhưng đến nay Hagan vẫn khuyên họ chờ đợi. “Họ nhìn thấy cơ hội nhưng họ không thể tham gia”, Neil Hagan, người từng xử lý nợ cho ngân hàng Lehman Brother's và các tổ chức khác tại châu Á sau khủng hoảng tài chính 1998 cho biết. Các nhà đầu tư nước ngoài khi đó đã mua hàng tỷ USD tài sản xấu.
Hagan dự báo rằng, cho đến cuối năm nay một vài thương vụ nhỏ hoặc “tình huống kích thích” có thể xảy ra. Ông điểm danh một số quỹ đầu tư tư nhân lớn như Lone Star hay Fortress có thể sẽ là người mua. Các nhà kinh tế và đại diện ngân hàng đầu tư khác thì ít tin tưởng hơn, do còn muốn chính phủ Việt Nam có những thay đổi đáng kể về luật pháp để cho phép việc này diễn ra một cách suôn sẻ.
Các ngân hàng Việt Nam đã cho vay ra hàng tỷ USD cuối những năm 2000 giữa lúc chính phủ tìm cách kích thích kinh tế trong bối cảnh kinh tế toàn cầu giảm tốc. Rất nhiều trong số vốn tín dụng này được cho vay các công ty quốc doanh, những người đem vốn đầu tư vào bất động sản (BĐS)
Nhưng nay, khi giá BĐS lao dốc còn kinh tế tăng trưởng chậm nhất hơn 10 năm, các công ty và cá nhân từng vay vốn không thể trả nợ. Nợ xấu khiến không ít ngân hàng nhỏ có nguy cơ phá sản, trong khi khiến các ngân hàng khác hạn chế cho vay. Hệ quả là nền kinh tế càng bị kìm hãm.
Bán một gói các khoản nợ xấu cho các nhà đầu tư nước ngoài là một cách để loại chúng khỏi sổ sách các ngân hàng. Thông thường, nhà đầu tư sẽ mua lại các khoản nợ cùng với tài sản bảo đảm của chúng ở một mức giá thấp hơn đáng kể mệnh giá.
Họ kỳ vọng kiếm lời bằng cách khiến tài sản đảm bảo tăng giá, hoặc chi tiền để “làm đẹp” cho tài sản trước khi bán, hoặc tìm kiếm doanh thu từ tài sản đó. Nhà đầu tư sẽ dùng các công ty xử lý nợ để thực hiện việc này.
Các ngân hàng vẫn muốn găm giữ nợ xấu
Nhưng để công việc này có thể được thực hiện, chính phủ trước hết cần phải buộc các ngân hàng bán nợ xấu. Muốn việc này thực hiện được tại Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc khiến chủ tịch và cổ đông của các ngân hàng chấp nhận thua lỗ, cũng như chính phủ phải đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước. Việc tịch biên hàng nghìn căn nhà hoặc doanh nghiệp nhỏ cũng là một nhiệm vụ khó khăn về mặt chính trị.
“Cho dù họ có đi theo hướng nào, cũng sẽ không có giải pháp dễ dàng”, Gareth Leader, chuyên gia về châu Á của công ty Capital Economics có trụ sở tại London nhận định. “Nhưng chừng nào bạn chưa khiến các ngân hàng cho vay trở lại, nền kinh tế sẽ khó lòng tăng tốc”.
Nhiều nhà quan sát cho rằng chính phủ có vẻ đang hy vọng kinh tế toàn cầu phục hồi sẽ khiến giá tài sản tại Việt Nam đi lên. Còn trong lúc này, các ngân hàng có thể che giấu số lượng nợ xấu trên sổ sách, một chiến lược được gọi là “giả bộ và gia hạn”.
Hồi tháng 5, Việt Nam đã thành lập một công ty quản lý tài sản để mua nợ xấu từ các ngân hàng, nhưng vẫn có những hoài nghi về hiệu quả của công ty này. Công ty có số vốn 23 triệu USD. Theo các nhà phân tích các công ty này nên cân nhắc việc bắt tay với một đối tác nước ngoài để bù đắp số vốn thiếu hụt
“Một quỹ đầu cơ của Mỹ có thể chi số tiền bằng toàn bộ công ty quản lý tài sản Việt Nam”, John Sheehan, chuyên gia về nợ xấu tại Capital Services Group, người vừa có chuyến đi tới Việt Nam để gặp gỡ các ngân hàng cho biết. “Nếu họ đưa ra những hạ tầng cần thiết, sẽ có nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng nhập cuộc. Họ làm việc này càng sớm, tình hình sẽ càng sớm tiến triển”.
Hiện có rất nhiều trở ngại cho các nhà đầu tư mua bán nợ xấu: Nhiều con nợ xấu nhất là các công ty nhà nước, do đó việc thu nợ từ những công ty này là đặc biệt khó, nếu không muốn nói là bất khả thi. Lãnh đạo của các công ty đó có thể bị khởi tố hình sự nếu bán tài sản với giá rẻ bởi việc đó “gây tổn thất cho nhà nước”. Người nước ngoài lại không được phép sở hữu BĐS hay tài sản cầm cố.
David Harrison, một luật sư của Mayer Brown tại Việt Nam nhận định, có vẻ chính phủ sẽ sửa đổi luật để cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua tài sản gắn với các khoản nợ, có lẽ là với sự kết hợp cùng công ty quản lý tài sản.

Những sai sót của chính ngân hàng cũng làm cho tỷ lệ nợ xấu cao, đó là: định giá BĐS quá cao;

 

Công ty Quản lý Tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) cho biết, trong số 6.500 tỷ đồng nợ xấu đã mua, có hơn 67% nợ xấu thuộc lĩnh vực bất động sản.

(Dân trí)- Nhiều tổ chức kinh tế “ngoại” tin rằng giá bất động sản tại Việt Nam đã đến “đáy” nên muốn thông qua VAMC để mua những tài sản đảm bảo bằng bất động sản. Nhưng VAMC chưa đặt vấn đề ký kết, hợp tác, vay vốn hay mua bán nợ đối với các đối tác này.

Trước thông tin nhiều tổ chức kinh tế nước ngoài đánh tiếng tham gia vào thị trường nợ của Việt Nam, ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch thường trực Công ty Quản lý và Khai thác tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) cho biết:
Đúng là có rất nhiều lời đề nghị của tổ chức nước ngoài, họ tới tìm hiểu mô hình hoạt động VAMC, cách thức xử lý nợ xấu, quan tâm tới các tài sản đảm bảo để thăm dò bỏ vốn đầu tư, hoặc muốn thông qua tổ chức nào đó thâu tóm lại các tài sản đảm bảo mà VAMC đã mua.
“Có khách hàng nước ngoài đặt vấn đề mua lại nợ xấu của VAMC. Nhưng VAMC chưa đặt vấn đề ký kết, hợp tác, vay vốn hay mua bán nợ đối với đối tác này. Vì có những nhà đầu tư nước ngoài đề cập đến vấn đề mua bán theo giá thị trường, nhưng hiện tại vốn điều lệ của VAMC chỉ có 500 tỷ đồng nên vấn đề đặt ra không khả thi".
Cũng theo chia sẻ của Phó Chủ tịch VAMC, nhiều tổ chức kinh tế nước ngoài tin rằng giá bất động sản tại Việt Nam đã đến “đáy” nên muốn thông qua VAMC để mua những tài sản đảm bảo bằng bất động sản. Do đó, VAMC cũng sẽ phải thận trọng khi tính tới việc bán tài sản nợ của doanh nghiệp, cũng không thể vội vàng bán rẻ khi thị trường đang “đóng băng”.
Ông Nguyễn Quốc Hùng nói: “Nếu thời gian tới, thị trường bất động sản ấm lên, nền kinh tế phát triển, giá trị tài sản được nâng lên thì tổ chức tín dụng có phát mại tài sản cũng thu được gốc, tổ chức kinh tế có bán tài sản cũng tránh được việc phá sản. Bởi khi đó, tài sản cũng có thể bán được giá hợp lý và đặc biệt là không bị thâu tóm tài sản với giá rẻ mạt”.
Tháng 10 này, 10.000 tỷ nợ nợ xấu sẽ được mua bởi VAMC (ảnh minh họa).
Tháng 10 này, 10.000 tỷ nợ nợ xấu sẽ được mua bởi VAMC (ảnh minh họa).

Đề cập tới “quyền năng” của VAMC, vị đại diện này cho rằng: “VAMC không phải cây đũa thần, chúng tôi chỉ là đầu mối trung gian hỗ trợ và là chất xúc tác cho cả quá trình đó. Trước đây, ngân hàng đơn thương độc mã xử lý món nợ xấu của mình, đơn cử có trường hợp 5 ngân hàng cùng chung một con nợ, phải cắt cử người ngồi trông kho tài sản đảm bảo. Nhưng nay chúng tôi tham gia cùng ngân hàng và doanh nghiệp tái cơ cấu khoản nợ, tìm phương án giúp doanh nghiệp ổn định trở lại và phát triển”. Hiện tại, VAMC đã có khách hàng đầu tiên là Agribank bán 27 món nợ xấu của 11 khách hàng doanh nghiệp và trong tuần này sẽ ký kết mua nợ với SCB, SHB, PGBank. Dự kiến trong tháng 10 này, VAMC sẽ mua nợ từ các tổ chức tín dụng với giá trị khoảng 10.000 tỷ đồng bằng trái phiếu đặc biệt.
Tuy nhiên, theo ông Hùng, thời gian đầu các tổ chức tín dụng khá e ngại khi phải mua bán nợ xấu với VAMC. Bởi lúc đó họ chưa hiểu rõ quy định và cơ chế mua bán nợ. Họ cũng không rõ khi bán nợ sẽ phải trích lập dự phòng rủi ro thế nào, rồi bán nợ xong thì được vay tái cấp vốn với tỷ lệ bao nhiêu, việc bán nợ đó ảnh hưởng thế nào tới tình hình tài chính của ngân hàng.
Nhưng sau khi có cơ chế rõ ràng, được giải đáp thoả đáng, họ đã nhiệt tình hơn. Ngân hàng Nhà nước và VAMC đã tổ chức hai hội nghị tại TP HCM và Hà Nội để quán triệt tinh thần triển khai Nghị định 53 của Chính phủ và các Thông tư 19, 20 hướng dẫn mua bán nợ xấu. Ngay sau hội nghị tại TP HCM, 5 tổ chức tín dụng đăng ký làm việc với VAMC với tinh thần hợp tác. Sau hội nghị tại Hà Nội cũng vậy, các đơn vị đến tận trụ sở VAMC để tìm hiểu và bày tỏ mong muốn bán nợ. Đến nay có hơn 10 tổ chức tín dụng đặt vấn đề bán nợ cho VAMC và điều đáng mừng là 4 đơn vị trong số này có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%.
Được biết, khoản nợ xấu khi ngân hàng bán cho VAMC sẽ được đưa ra phần ngoại bảng để theo dõi mà không phải trích lập ngay lập tức 100% dự phòng rủi ro, thay vào đó sẽ chia đều cho 5 năm, tối thiểu mỗi năm 20%. Ngân hàng còn được sử dụng trái phiếu đặc biệt để đến Ngân hàng Nhà nước vay tái cấp vốn với tỷ lệ tới 70% giá trị trái phiếu. Doanh nghiệp cũng được lợi vì khi VAMC mua nợ xấu, ngân hàng sẽ có quyền cho vay trở lại nếu dự án của doanh nghiệp khả thi, hiệu quả.
Và để hỗ trợ giảm bớt khó khăn cho các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước đang trình Chính phủ cho áp dụng mức lãi suất trái phiếu hợp lý, tối thiểu 2%/năm, thay vì mặt bằng lãi suất vay tái cấp vốn hiện nay khoảng 7%/năm.
Theo đại diện của VAMC, với rất nhiều hồ sơ mà các tổ chức gửi đến, trước hết, VAMC sẽ ưu tiên cho 3 đối tượng: ngân hàng thương mại vốn nhà nước, các ngân hàng thuộc diện tái cơ cấu và các ngân hàng có nợ xấu trên 3%. Và với 3 đối tượng này, VAMC cũng ưu tiên để mua các khoản nợ đã hội đủ tiêu chí và sẵn sàng bán được ngay. Dù vậy, các khoản nợ xấu dưới 3% của các tổ chức tín dụng cũng sẽ được xem xét, nhưng mất nhiều thời gian hơn để VAMC sàng lọc hồ sơ.

 dự tính sẽ có một nguồn vốn lớn được Ngân hàng Nhà nước thực hiện qua việc tái cấp vốn cho các chủ sở hữu trái phiếu đặc biệt. Tổng quy mô có thể lên tới 100.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên, Phó thống đốc Đào Minh Tú cho biết, đến thời điểm này vẫn chưa có ngân hàng nào sử dụng trái phiếu đặc biệt để vay vốn tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước. Lý do chung được ông Tú nhìn nhận ở thanh khoản hệ thống tốt và các ngân hàng đang “rủng rỉnh” vốn.

Cũng theo ông Tú, cơ chế hiện hành cho phép tổ chức tín dụng được sử dụng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành để nhận tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước với hạn mức tối đa 70% giá trị trái phiếu.

“Tuy nhiên, việc tái cấp vốn, mức độ và hạn mức sẽ được Ngân hàng Nhà nước cân nhắc linh hoạt tùy từng thời điểm. Hạn mức hiện tối đa 70% nhưng cũng có thể rút xuống 50%”, ông Tú nói.

Từ ngày 1/10/2013, VAMC đã bắt tay vào mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng như Agribank, SCB, SHB, PGBank… đã lần lượt ký hợp đồng bán nợ xấu; trái phiếu đặc biệt cũng đã được phát hành. Nhiều ngân hàng khác cũng đã gửi hồ sơ về và đăng ký bán lại nợ.

Sau tháng đầu tiên, đã có khoảng 10.000 tỷ đồng nợ xấu các ngân hàng bán lại cho VAMC. Mục tiêu mà công ty này đặt ra đến cuối năm 2013 sẽ mua được tối thiểu 30.000 tỷ đồng.

Các tổ chức tín dụng được sử dụng trái phiếu đặc biệt để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước với mức lãi suất dự kiến rất thấp. Theo cơ chế này, một nguồn vốn từ nợ xấu sẽ được “tái sinh” cho các ngân hàng thương mại, cũng như tỷ lệ nợ xấu được “giảm” đi tương ứng.

Những ngân hàng nào nợ xấu "khủng" nhất?

Thứ Ba, ngày 27/08/2013 07:59 AM (GMT+7)
Điểm qua khối các ngân hàng trong báo cáo 6 tháng đầu năm, tỷ lệ nợ xấu ở mức khủng thuộc về Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex (PGBank) với 9.1%. Kế đến là SHB cuối quý 2/2013 là 9,04%, tương đương gần 5.300 tỷ đồng.
Thông tin Tài chính - Bất động sản, Thị trường chứng khoán, Giá vàng cập nhật liên tục và nhanh nhất
Không những tỷ lệ nợ xấu gia tăng mạnh mà nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) của hầu hết các ngân hàng cũng có xu hướng tăng đáng kể. Tổng nợ xấu của các ngân hàng trên gần 47.000 tỷ, trong đó, nợ nhóm 5 chiếm gần 20.300 tỷ đồng.
Tỷ lệ nợ xấu ở mức khủng thuộc về Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex (PGBank) với 9.1%. Trong khi cho vay tại PGBank chỉ đạt 13,155 tỷ đồng thì nợ xấu đã chiếm 1.197 tỷ, trong đó, nợ có khả năng mất vốn là 137 tỷ đồng.
Những ngân hàng nào nợ xấu "khủng" nhất? - 1
Tỷ lệ nợ xấu ở mức khủng thuộc về Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex (PGBank) với 9.1%.
Tuy nhiên, điều bất ngờ nhất có lẽ là nợ xấu của Techcombank tăng vọt từ ngưỡng cho phép 2.7% lên 5.28%, nợ xấu cao gấp đôi cuối năm 2012 lên gần 3,700 tỷ đồng với nợ có khả năng mất vốn tăng mạnh 47% lên 1,300 tỷ đồng. Chất lượng nợ của ngân hàng này cũng giảm sút rõ rệt khi nợ đủ tiêu chuẩn giảm 4%, còn nợ cần chú ý (nhóm 2) cao gấp đôi và nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) cao gấp 14 lần so với đầu năm.
Nợ xấu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (HNX: SHB) đến cuối quý 2/2013 là 9,04%, tương đương gần 5.300 tỷ đồng. Số nợ này cũng gắn liền với khoản cho vay và phát hành trái phiếu của Vinashin. Tuy nhiên, trong một lần trả lời báo chí gần đây, đại diện của SHB khẳng định tỷ lệ nợ xấu này chỉ tăng nhẹ so với đầu năm. Đây cũng là một trong những ngân hàng có nhân sự về đầu quân cho VAMC.
Ngân hàng TMCP Nam Việt (HNX: NVB) cũng chưa cải thiện được nợ xấu của chính mình. Chưa biết lộ trình tự tái cơ cấu sẽ đưa NVB về đâu nhưng trước mắt nợ xấu của ngân hàng này vẫn gia tăng đáng kể lên 6.1% với nợ có khả năng mất vốn gần 500 tỷ đồng.
Theo số liệu từ chính các ngân hàng công bố thì hiện có ít nhất 5 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu trên 3% bao gồm PGBank, SHB, NVB, PVF và Techcombank, sẽ phải bắt buộc bán nợ xấu cho VAMC bởi tổ chức này quy định ngưỡng cho phép là 3%.
Một ngân hàng khác cũng từng đánh tiếng sẽ bán nợ xấu cho VAMC là Ngân hàng TMCP Á Châu (HNX: ACB) khi tỷ lệ nợ xấu đã mấp mé ở ngưỡng 2,99%. Bên cạnh đó, nợ có khả năng mất vốn của ACB cũng tăng đên 55% lên 1.782 tỷ đồng.
Tỷ lệ nợ xấu của VCB cũng cách ngưỡng 3% không xa. Trong khi đó nợ có khả năng mất vốn cũng tăng 53% lên hơn 2.200 tỷ đồng.
BIDV (BID) mặc dù khống chế tỷ lệ nợ xấu được ở mức 2,58% nhưng khoản này chiếm đến gần 9.400 tỷ, trong đó nợ có khả năng mất vốn gần 2.700 tỷ đồng.
Tăng trưởng cho vay âm
Tăng trưởng cho vay tại một số ngân hàng tính đến 30/06/2013 vẫn đang bị âm. Tuy nhiên, điều đáng nói là trong khi hoạt động cho vay giảm sút thì nợ xấu tại các ngân hàng này vẫn tăng đều đều.
“Ông lớn” Vietcombank (HOSE: VCB) bị âm tăng trưởng cho vay gần 1,5% trong khi tỷ lệ nợ xấu tăng từ 2,4 lên 2.8%. Tương tự như VCB, tỷ lệ nợ xấu của PVF từ 4,77% lên 5,56% nhưng tăng trưởng cho vay âm đến 8%.
Đạt tỷ lệ tăng trưởng cho vay khách hàng cao nhất là Sacombank (HOSE: STB) với hơn 13%, huy động tại ngân hàng này cũng tăng ấn tượng 16%.
NVB cũng là ngân hàng có cho vay và huy động tăng trưởng tốt nhưng có lẽ chưa tương xứng với kết quả đạt được và tỷ lệ nợ xấu mà ngân hàng “dính” phải.
Nhìn chung, chỉ có 3 ngân hàng có tỷ lệ cho vay/huy động vượt 100% là PVF, CTG và BIDV. Trong đó, khoản cho vay của PVF vượt gần 34% so với số tiền huy động được từ khách hàng. Tỷ lệ này ở Ngân hàng TMCP Quân đội (HOSE: MBB) chỉ ở mức 60%.
Tổng tài sản của hầu hết các ngân hàng giảm đáng kể so với đầu năm chủ yếu do hoạt động liên ngân hàng và phát hành giấy tờ có giá sụt giảm. Trong đó, giảm nhiều nhất là Eximbank (HOSE: EIB) hơn 13,800 tỷ đồng, Techcombank cũng giảm gần 8.500 tỷ đồng. Đặc biệt là ACB chịu ảnh hưởng rõ nét từ hoạt động liên ngân hàng khi khoản tiền gửi tại các TCTD và cho vay các TCTD khác giảm hơn 9.000 tỷ, tiền gửi và vay các TCTD khác cũng giảm hơn 6.600 tỷ đồng.
Liên quan đến lĩnh vực liên ngân hàng, ACB cũng chịu ảnh hưởng nặng nề từ vụ án lừa đảo Huỳnh Thị Huyền Như khi việc đòi lại khoản tiền hơn 700 tỷ đồng được ACB ủy thác cho các nhân viên đem gửi tại ngân hàng khác hoàn toàn không dễ dàng. Giải trình về kết quả hoạt động giảm sút trong quý 2 vừa qua, ACB cũng thừa nhận hoạt động liên ngân hàng đã tác động rất mạnh đến kết quả này.
Ở phía ngược lại, có 7 ngân hàng tăng tài sản, chủ yếu nhờ tiền gửi của khách hàng.
Bán nợ cho nước ngoài: Chẳng dễ "xơi"
Trong lúc việc mua bán nợ xấu trong nước còn "chưa thông" thì thông tin một số nhà đầu tư ngoại "nhòm ngó" và sẵn sàng mua nợ xấu của Việt Nam đang làm thị trường mua bán nợ "nóng" lên.
Về việc này TS. Hiếu bày tỏ, "sẽ không dễ dàng như vậy". Theo ông, điều này chưa hề có tiền lệ, chưa kể với số nợ được đảm bảo bằng tài sản bất động sản, mua xong rồi sẽ xử lý ra sao? khi kéo theo nó là hàng loạt vấn đề rắc rối về pháp lý.
"Nếu các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm tới nợ xấu và muốn mua số nợ này chắc chắn Việt Nam phải hoàn thiện khung pháp lý và giá"- TS. Hiếu bình luận.
Ngoài ra cũng phải chấp nhận "đánh đổi" khi phải tăng quyền sở hữu cổ phần cho đối tác nước ngoài, sở hữu đất đai... Với những điều kiện "gia tăng" này, chắc chắn các DN trong nước trong lúc đang "ốm yếu" sẽ chẳng vui vẻ gì, vì họ sẽ phải thêm gánh nặng cạnh tranh trước đối tác ngoại.
Chia sẻ thêm với Infonet, nguyên Phó tổng giám đốc một NHTM tại Hà Nội đánh giá bán nợ cho nhà đầu tư nước ngoài cũng là một phương án tốt khi nguồn lực trong nước hạn chế. Tuy nhiên, vị này băn khoăn, nếu có mua chắc chắn các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chỉ "nhắm" tới những khoản nợ có khả năng thu hồi – nợ nhóm 3 – trong khi với những món nợ này Việt Nam hoàn toàn có thể giải quyết được bằng nội lực của mình.
"Dẫu biết phải xử lý nợ xấu càng nhanh càng tốt để tránh lây lan ra toàn hệ thống, nhưng phương thức bán nợ xấu cho nhà đầu tư ngoại cũng không "dễ xơi"- ông nói.

Những chiêu giảm nợ xấu của cácĐại gia Việt

Trước đó, theo thông tin từ Thống đốc Nguyễn Văn Bình, từ nay đến cuối năm, Công ty Quản lý tài sản (VAMC) cũng sẽ tham gia xử lý khoảng 30.000 tỉ đồng nợ xấu, góp phần kéo giảm tỷ lệ này xuống.
Liên quan đến đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, ông Bình cho biết sau 2 năm triển khai, NHNN đã chỉ đạo xử lý tái cơ cấu được 8 ngân hàng cổ phần yếu kém, chỉ đạo 3 trong số 4 ngân hàng quốc doanh lớn cổ phần hóa, trong đó 2 ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Vị đại diện Thanh tra NHNN khẳng định việc giám sát các tổ chức tín dụng (TCTD) được thực hiện thường xuyên nhằm nhận diện chính xác thực trạng, từ đó có biện pháp tái cơ cấu thích hợp nhằm giữ ổn định, không gây xáo trộn hệ thống, góp phần thực hiện thành công Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015" đã được Chính phủ phê duyệt.

Trước đó trong năm 2012, NHNN đã xác định được 9 ngân hàng yếu kém và đã triển khai các giải pháp phù hợp để tiến hành tái cơ cấu các. Cụ thể NHNN đã phê duyệt phương án tái cơ cấu 8 NHTMCP yếu kém, trong đó, 3 ngân hàng đã được hợp nhất với nhau, 1 ngân hàng đã được hợp nhất với 1 Công ty tài chính, 1 ngân hàng đã được sáp nhập vào 1 ngân hàng khác, 3 ngân hàng tự củng cố, chấn chỉnh.

Tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia, quá trình tái cơ cấu ngân hàng chỉ mới hoàn thành được bước 1. Theo lộ trình tái cơ cấu đề ra, năm 2014, ngành ngân hàng phải hoàn thành căn bản tái cơ cấu tài chính. Cụ thể, phải hoàn thành căn bản xử lý nợ xấu, áp dụng trên thực tế các chuẩn mực kế toán và an toàn, tập trung hoàn thành tái cơ cấu hoạt động và quản trị.

Ông Nguyễn Hữu Nghĩa khẳng định, từ nay đến năm 2015, NHNN tiếp tục đưa ra 5 giải pháp để đưa nợ xấu về 3% và đẩy nhanh lộ trình tái cơ cấu.

Thứ nhất, trên cơ sở kết quả thanh tra, giám sát năm 2013, tiếp tục đánh giá thực trạng TCTD qua công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để nhận diện các TCTD yếu kém và TCTD hoạt động bình thường, từ đó có biện pháp tái cơ cấu thích hợp.

Thứ hai, yêu cầu tất cả các TCTD chủ động rà soát, đánh giá thực trạng và xây dựng phương án tái cơ cấu toàn diện các mặt tổ chức và hoạt động, tập trung tăng cường năng lực tài chính đảm bảo vốn tự có đủ bù đắp rủi ro, đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo quy định và vốn điều lệ thực không thấp hơn mức vốn pháp định, xử lý nợ xấu và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp.

Thứ ba, tiếp tục tập trung triển khai Đề án xử lý nợ xấu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đồng thời đôn đốc, giám sát chặt chẽ quá trình bán, xử lý nợ xấu giữa các TCTD và Công ty quản lý tài sản Việt Nam.

Thứ tư, hoàn thiện đồng bộ các quy định liên quan đến việc đổi mới hệ thống quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro, minh bạch hóa trong hoạt động ngân hàng tạo nền tảng cho NHNN sẽ tập trung chỉ đạo tái cơ cấu toàn diện trên quy mô toàn hệ thống, trong đó, tập trung cải cách thể chế về quản trị DN.

"Đây là một nội dung then chốt tạo cơ sở cho các TCTD tự tái cơ cấu theo các Phương án tái cơ cấu đã được NHNN phê duyệt và là nền tảng cho sự thay đổi của hệ thống các TCTD theo mục đích tái cơ cấu dựa trên sự tự thay đổi của chính các TCTD trong bối cảnh nâng cao kỷ luật thị trường" - ông nhấn mạnh.

Đặc biệt, theo quan điểm của ông Nghĩa, việc tái cơ cấu hệ thống các TCTD và xử lý các TCTD yếu kém là vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của nhiều bên và mất nhiều thời gian với nhiều thủ tục, quy định. Do vậy, thời gian xử lý các TCTD yếu kém có thể chậm hơn so với kế hoạch dự kiến.

Nguyên nhân cũng được vị Chánh thanh tra NHNN chỉ ra, để tái cơ cấu vẫn cần bổ sung các cơ chế, chính sách khuyến khích các TCTD tích cực triển khai tái cơ cấu như các cơ chế, chính sách về miễn giảm thuế, phí để hỗ trợ TCTD trong xử lý nợ xấu và các tài sản đảm bảo tiền vay, các cơ chế chính sách về miễn giảm thuế liên quan đến các giao dịch sáp nhập, hợp nhất, mua lại để hỗ trợ cho quá trình cơ cấu lại TCTD...

Về kinh tế vĩ mô, dù đã có những diễn biến khởi sắc hơn, song thị trường bất động sản vẫn chưa phục hồi, sản xuất kinh doanh còn nhiều khó khăn, tiêu thụ hàng hoá chậm, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp còn rất thấp, dẫn đến các TCTD vẫn tiếp tục chịu áp lực nợ xấu trong thời gian tới và việc xử lý nợ xấu vẫn còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, các cơ chế, chính sách xử lý tài sản bảo đảm tiền vay còn nhiều rất vướng mắc, phức tạp, chưa được khắc phục, hoàn thiện, làm chậm tiến độ xử lý nợ xấu của hệ thống trong thời gian tới.

Ngoài ra, do kinh tế vĩ mô và điều kiện sản xuất - kinh doanh, thị trường tài chính trong nước và quốc tế gặp nhiều khó khăn nên việc huy động các nguồn vốn và tìm kiếm các nhà đầu tư có đủ năng lực tài chính, quản trị để tham gia tái cơ cấu, xử lý nợ xấu của các TCTD không thuận lợi.

NGUYÊN HỒNG

Điểm lạ của mùa báo cáo kết quả kinh doanh quý 3 năm nay, một số ngân hàng thương mại nhỏ có kết quả không thuận lợi lại công bố trước.

Những năm gần đây, rất hiếm khi Ngân hàng Xăng dầu Petrolimex (PGBank) có thông tin về tình hình sức khỏe định kỳ sớm như vậy. Đây là thành viên đầu tiên trong hệ thống báo lãi quý 3/2013.

Tuy nhiên, sau một thời gian dài chật vật tăng vốn để đảm bảo mức vốn pháp định (3.000 tỷ đồng), khó khăn càng nổi bật hơn tại đây. Cụ thể, quý 3/2013, PGBank chỉ chớm lãi 11,5 tỷ đồng, nâng tổng lợi nhuận lũy kế 9 tháng được hơn 60 tỷ đồng.

Từng là thành viên có hiệu quả kinh doanh ở nhóm dẫn đầu hệ thống (xét theo các chỉ số cơ bản ROA và ROE) một số năm trước, nay PGBank ở tình thế chấp chới lợi nhuận. Dễ thấy một nguyên nhân chính là nợ xấu đã ở mức quá cao, lên tới 9,5% tổng dư nợ.

Tương tự, Ngân hàng Nam Việt (Navibank) cũng thoát lỗ trong gang tấc, theo báo cáo tài chính quý 3/2013 vừa công bố. Lợi nhuận sau thuế trong kỳ của ngân hàng này chỉ chớm hơn 2,6 tỷ đồng; lũy kế 9 tháng được 10,5 tỷ đồng. Dù sao Navibank cũng đã có lãi trở lại, sau khi báo lỗ hơn 11 tỷ đồng trong quý 2/2013.

Trước đó, trong thông tin giải trình (do đã niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội), Navibank nhấn mạnh đến nguyên nhân ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận là việc cắt giảm lãi suất trong thời gian qua nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, người dân vay vốn…

Còn theo báo cáo tài chính, nợ xấu ở mức cao cũng là một níu kéo chính. Đáng chú ý là tỷ lệ nợ xấu của Navibank tiếp tục tăng mạnh và lên mức cao, từ 6,11% cuối quý 2/2013 lên tới 8,77% trong quý 3/2013.

Với những thông tin bước đầu công bố, PGBank và Navibank là hai trường hợp khó khăn đầu tiên được định hình, thể hiện ở mức lợi nhuận mong manh và tỷ lệ nợ xấu ở mức cao. Trong khi đó, hẳn có những ngân hàng lỗ, thậm chí có thể lỗ lớn kéo dài thời gian qua nhưng vẫn chưa lộ diện.

Thực tế trên chỉ được nhận biết ở tình hình chung, khi dữ liệu cập nhật gần nhất của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến 30/8/2013, tình trạng quy mô vốn tự có của khối ngân hàng thương mại cổ phần vẫn bị lỗ ăn mòn dẫn tới thấp hơn cả quy mô vốn điều lệ (177.898 tỷ đồng so với 180.533 tỷ đồng).

Khó khăn không chỉ thể hiện ở những trường hợp cụ thể trên và ở tình hình chung đó, ngay cả một số ngân hàng lớn cũng đang đuối sức trước khả năng sinh lời.

Dù chưa công bố chính thức, nhưng theo gợi mở của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Lê Hùng Dũng trên báo chí tuần qua, kế hoạch 3.200 tỷ đồng lợi nhuận năm nay của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) gần như chắc chắn sẽ không thể đạt; thậm chí mức độ hoàn thành khoảng 50% chỉ tiêu đó đang cần phấn đấu.

Cụ thể, ông Lê Hùng Dũng cho biết: “Lợi nhuận 9 tháng mới đạt xấp xỉ 38% chỉ tiêu đề ra cho năm 2013; cả năm phấn đấu đạt khoảng 1.600 tỷ đồng, tức 50% kế hoạch”.

Cùng với Eximbank, kết quả của một đầu tàu lợi nhuận trong khối cổ phần những năm 2008 - 2011 là Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) hiện đang được chờ đợi. Với tình hình trong 6 tháng đầu năm, khi nợ xấu tăng cao, khả năng trở lại của Techcombank như thế nào trong quý 3 vừa qua vẫn là ẩn số.

Trong khi đó, dù giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2012 (3,7%), song Ngân hàng Quân đội (MB) vẫn đang bám trụ ở vị trí dẫn đầu lợi nhuận của khối ngân hàng thương mại cổ phần (nhóm Nhà nước không nắm tỷ lệ sở hữu chi phối), xét ở con số tuyệt đối.

Cụ thể, 9 tháng đầu năm 2013, lợi nhuận trước thuế của MB đạt hơn 2.600 tỷ đồng, hoàn thành 74% kế hoạch cả năm (3.523 tỷ đồng). Tỷ lệ nợ xấu tiếp tục tăng nhẹ, lên 2,55% so với mức 2,44% quý liền trước.

Một thành viên khác cũng đang thể hiện sự ổn định, đều đặn trong khả năng tạo lãi là Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank). Ước tính trong 9 tháng đầu năm 2013, Sacombank đạt khoảng 2.200 tỷ đồng.

Xét về tiến độ thực hiện kế hoạch, dù chưa công bố chính thức và cụ thể, nhưng dự kiến Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là thành viên có khả năng bám sát chỉ tiêu tốt nhất. Ước 9 tháng BIDV đạt khoảng 3.800 tỷ đồng lợi nhuận và hoàn thành 81% kế hoạch năm.

Dù chỉ tiêu và tỷ lệ hoàn thành không phản ánh trực tiếp hiệu quả hoạt động của ngân hàng, song việc bám sát được nó ít nhất cho thấy khả năng dự báo và tính ổn định trong hoạt động của mỗi thành viên.

Dự kiến trong tuần này và tuần tới, các ngân hàng thương mại sẽ lần lượt công bố chính thức báo cáo tài chính 9 tháng đầu năm 2013. Dù vậy, bên cạnh những thông tin bước đầu, những trường hợp thoát lỗ trong gang tấc, thì nhiều khả năng công chúng vẫn không thể nhận diện một cách đầy đủ và cụ thể những trường hợp thua lỗ.