Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ - Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”.
Nợ xấu là sự tồn tại tất yếu trong hoạt
động của hệ thống ngân hàng, sự tồn tại của nợ xấu chỉ thực sự
nguy hiểm khi nó vọt lên ngưỡng cao hoặc bối cảnh kinh tế, tình hình tài
chính hiện tại của các chủ thể trong nền kinh tế có thể đẩy nợ xấu lên
mức nguy hiểm trong tương
lai. Thực tế cho thấy, khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 - 1998
và khủng hoảng toàn cầu hiện nay cũng có nguyên nhân từ các khoản nợ
xấu.
Tại Việt Nam, sau khi khối lượng nợ tồn đọng từ
những năm 1990 được xử lý, tỷ lệ nợ xấu từ năm 2000 với mức 2 con số
đã giảm xuống còn ở mức 1 con số. Tuy nhiên trong những năm gần
đây, tỷ lệ nợ xấu đang có chiều hướng gia tăng.
Theo kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà
nước (NHNN), đến ngày 31/3/2012 nợ xấu của các TCTD chiếm 8,6% tổng dư
nợ cấp tín dụng. Trong đó, nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước
là 125,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,37% dư nợ cấp tín dụng của nhóm ngân
hàng thương mại nhà nước; nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần
là 60,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 5,8% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng
thương mại cổ phần.
Kết quả trên cho thấy, tỉ lệ nợ xấu hiện
tại của Việt Nam (8,6%) là đáng lo ngại, nhưng chưa đến mức bi kịch. So
với thời điểm khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, nợ xấu của các
quốc gia khác còn lên đến mức 30-40%.
Tuy nhiên, nếu không có một cơ chế để xử
lý nợ xấu, khi tụ thành quy mô lớn, nó có thể sẽ nguy hại đối với nền
kinh tế. Đặc biệt, khi nhìn vào điều kiện kinh tế nói chung và điều kiện kinh
doanh của các ngân hàng và doanh nghiệp (DN) Việt Nam hiện nay. Trong
bối cảnh tái cấu trúc toàn nền kinh tế đang được đặt ra thì nợ xấu nếu
không được xử lý triệt để có thể sẽ bùng phát lên mức nguy hiểm.
Hiện nay, khoản nợ xấu thực tế là bao nhiêu thì không thể xácđịnh được, do nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, để hiểu bản chất thực của nợ xấu ở Việt Nam hiện nay thì cần xem xét
tiến trình xử lý nợ xấu đã và đang được tiến hành thế nào.
lên tới 200.000 tỷ đồng. Trong khi nợ xấu lớn nhất thuộc nhóm các DN hoạt động dịch vụ
khác với khoảng 19,5% tổng nợ xấu. Dù bị đổ tội nhiều, nhưng nợ xấu
trong bất động sản chỉ khoảng 14,6%.
Ba nhóm nợ lớn nhất là xây dựng; vận tải kho bãi; mua bán sửa chữa ô
tô, động cơ chiếm khoảng 40% tỷ lệ nợ xấu. Lĩnh vực công nghiệp chế tạo chiếm tới 9,9% tổng nợ xấu.
Cơ cấu nợ xấu
cho thấy, DN Việt tham gia vào nền kinh tế không có cái nhìn dài hơi.
Tái cơ cấu các DN Nhà nước sẽ giúp xử lý được những khoản nợ của các
ngân hàng.
Một số giải pháp đã và đang thực hiện
Không để môi trường tín dụng bị đẩy đi
xấu hơn nhằm ngăn chặn những diễn biến tiêu cực có thể xảy ra trước mắt,
NHNN đã kịp thời ban hành nhiều chính sách để tháo gỡ khó khăn cho cả
phía DN và ngân hàng. Các biện pháp này tập trung vào hai nội dung
chính: thứ nhất, tăng cường khả năng tiếp cận TDNH cho
các DN thông qua việc cho phép điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ nhưng
không chuyển nhóm nợ, giúp các DN gặp khó khăn có thể tiếp tục vay vốn
ngân hàng để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh; thứ hai, từng bước điều chỉnh giảm lãi suất (bao gồm cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay) nhằm giảm chi phí lãi vay cho các DN.
Bên cạnh đó, NHNN đã đưa ra một số giải pháp xử lý nợ xấu đồng bộ như sau:
Một là, chỉ
đạo các TCTD thực hiện đúng các quy định của pháp luật về hoạt động cho
vay, tỷ lệ an toàn vốn và giới hạn cấp tín dụng, không cho vay mới để
trả nợ cũ với mục đích che giấu nợ cũ;
Hai là, yêu
cầu các TCTD chủ động phối hợp với khách hàng vay để thực hiện việc
đánh giá chất lượng và khả năng thu hồi các khoản nợ để có biện pháp xử
lý phù hợp, như: Cơ cấu lại nợ một cách cách hợp lý để giảm khó khăn tài
chính tạm thời cho DN, trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo
quy định, thực hiện tốt việc mua bán nợ;
Ba là, chỉ đạo
các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, chia sẻ khó khăn cho doanh
nghiệp thông qua giảm lãi suất tiền vay đối với cả lĩnh vực ưu tiên và
các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác;
Bốn là, rà
soát, hoàn thiện các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng rủi ro phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của
Việt Nam, đồng thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định về cấp
tín dụng và an toàn hoạt động ngân hàng nhằm tăng cường khả năng phòng
ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng;
Năm là, tăng
cường hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để bảo
đảm các tổ chức tín dụng tuân thủ đúng các quy định về hoạt động ngân
hàng, đặc biệt là quy định về cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự
phòng rủi ro và quy định về an toàn hoạt động tín dụng.
Ngoài ra, NHNN cũng chủ động phối hợp
với các Bộ, ngành liên quan để triển khai một số giải pháp hỗ trợ khác,
như: triển khai các chương trình tín dụng phù hợp, đẩy nhanh tiến độ
giải phóng hàng tồn kho, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh. Đồng thời, tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp sắp xếp, đổi
mới và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế và tổng
công ty nhà nước gắn với việc xử lý nợ xấu của các doanh nghiệp này;
Phối hợp với các địa phương hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi
nhanh, quản lý chặt chẽ và bảo đảm thị trường này phát triển lành
mạnh...
Trên thực tế, Việt Nam đã thành lập Công
ty Mua bán nợ và tài sản tồn động của DN (DATC) thuộc Bộ Tài chính để
thực hiện sứ mệnh giúp lành mạnh hóa tài chính của DNNN, đồng thời thúc
đẩy quá trình sắp xếp và chuyển đổi DNNN. Tuy nhiên, căn cứ vào diễn
biến nợ xấu hiện nay, thì chủ của các món nợ xấu không còn giới hạn
trong khu vực DNNN, dù đây là thành phần cần được xử lý chính yếu. Do
đó, việc xây dựng một công ty theo hướng AMC là cần thiết. Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) đã ra đời trong điều kiện này.
Mặc dù những biện pháp này đã giúp làm
dịu đi những căng thẳng trên thị trường tín dụng, nhưng không thể giải
quyết tận gốc vấn đề nợ xấu đang tồn đọng trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam hiện nay. Nên để xử lý dứt điểm nợ xấu cần phải có
những giải pháp tích cực cơ cấu lại DN, nâng cao năng lực tài chính,
khả năng kinh doanh, mở rộng thị trường của DN...
Tính đến 24-8, đã có 15 TCTD công bố BCTC và BCTC hợp nhất H1.2013.
Dưới đây là thống kê tình hình nợ xấu của 13 TCTD tính đến hết Q2.2013.
| TCTD |
Tỷ lệ nợ xấu |
Tổng dư nợ (tỷ đồng) |
Nợ xấu (tỷ đồng) |
| BIDV |
2,57% |
364.772 |
9.374,64 |
| Vietinbank |
2,10% |
334.607 |
7.026,75 |
| Vietcombank |
2,81% |
237.612 |
6.676,90 |
| SHB |
9,04% |
56.641 |
5.120,35 |
| ACB |
2,98% |
108.787 |
3.241,85 |
| Sacombank |
2,50% |
107.629 |
2.690,73 |
| Techcombank |
5,28% |
45.455 |
2.400,02 |
| MB |
2,44% |
78.160 |
1.907,10 |
| VPBank |
2,62% |
44.524 |
1.166,53 |
| SouthernBank |
2,77% |
41.984 |
1.162,96 |
| Navibank |
6,10% |
13.018 |
794,10 |
| OCB |
2,50% |
16.844 |
421,10 |
| TienPhongBank |
2,77% |
n/a |
n/a |
Nguồn: Tổng hợp
Từ bảng thống kê này, tổng nợ xấu của 12 NHTM trên (trừ TienPhongBank) là gần 42.000 tỷ đồng.
Xét về tỷ lệ nợ xấu, 3 TCTD có tỷ lệ lớn nhất là SHB (9,04%),
Navibank (6,1%) và Techcombank (5,28%). Tuy nhiên, BIDV, Vietinbank và
Vietcombank là các NHTM có nợ xấu lớn nhất.
Các TCTD trên chiếm hơn 70% dư nợ tín dụng toàn hệ thống (
VEF, 24-8).
Theo đại diện NHNN, năm 2012 và 7T.2013, các NHTM đã tự xử lý được
85.000 tỷ đồng nợ xấu. Tính đến 30-6, tỷ lệ nợ xấu của các TCTD là 4,68%
tổng dư nợ (
VnExpress, 6-9).
DN tài chính có tỉ lệ nợ xấu cao nhất
Thứ Ba, ngày 15/10/2013 10:08 AM (GMT+7)
Đó là ý kiến chung của các đại
diện ngân hàng tại TP.HCM trong buổi làm việc với Đoàn đại biểu
Quốc hội TP.HCM khảo sát về tình hình thực hiện chính sách
tiền tệ và hoạt động ngân hàng chín tháng đầu năm 2013 vào
chiều 14-10.
Ông Nguyễn Hoàng Minh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước
Chi nhánh TP.HCM, cho biết trong chín tháng năm 2013, tổng nợ xấu
chiếm gần 6% tổng dư nợ tín dụng tại TP.HCM. Trong đó, nhóm nợ
có khả năng mất vốn chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng nợ xấu
chiếm khoảng 69%. Phân tích của khối ngân hàng thì khối các
công ty tài chính, cho thuê tài chính có tỉ lệ nợ xấu cao
nhất, trên 44%; khối ngân hàng nước ngoài có tỉ lệ nợ xấu
thấp nhất chỉ dưới 3%. Đặc biệt, nợ xấu tập trung vào các DN
bất động sản, tiêu dùng và một nhóm nhỏ các DN nhỏ và vừa.
Hiện có ba hướng giải pháp nợ xấu chủ yếu là sử dụng quỹ
dự phòng rủi ro; thu nợ bằng tiền mặt và xử lý tài sản bảo
đảm nợ vay.
Tuy nhiên, theo nhiều ngân hàng, xử lý nợ xấu kiểu nào cũng gặp khó khăn. Đại diện
Ngân hàng
Agribank - Chi nhánh TP HCM cho biết vướng mắc khâu thi hành án
không xử lý được nợ xấu, mất nhiều thời gian, tài sản thì
không bán được vậy là ngân hàng phải chờ, khó mà thu hồi được
nợ.Ông Bùi Tấn Tài, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng ACB, cho hay
hiện nay hồ sơ bán đấu giá tài sản để ngân hàng thu hồi nợ
xấu kéo dài 3-4 năm có khi đến 10 năm đều xảy ra ở hầu hết
các ngân hàng. Khi ngân hàng phát mại tài sản, nếu tài sản
không bán được, ngân hàng muốn thu hồi tài sản đó cũng bị
vướng, một số tỉnh, thành khác thì cho phép còn TP.HCM lại
không.
Với tỉ lệ nợ xấu mức thấp ở thời điểm này là 1,7%, đại
diện Vietcombank chia sẻ cách xử lý nợ xấu là phải thẳng tay
khai tử những DN không thể sống được nữa. Còn những DN có
hướng kinh doanh tốt thì sẵn sàng giúp đến cùng chứ bỏ họ
nửa chừng thì ngân hàng lại mang nợ xấu.
Buổi họp cũng “nóng” lên với tình hình cho vay nhà ở xã
hội với gói tín dụng 30.000 tỉ đồng khi Ngân hàng Nhà nước
báo cáo số lượng khách hàng cá nhân tiếp cận được vay vốn
chỉ có 137 khách hàng, số tiền giải ngân mới chỉ 22,6 tỉ
đồng. Các ngân hàng đều cho biết có nguyên nhân nằm ở văn phòng
công chứng không đồng ý công chứng đối với hợp đồng thế chấp
nhà ở hình thành trong tương lai do chưa có quy định về loại
hình thế chấp này. Ngoài ra, việc chứng minh thu nhập thấp rất
khó chứng nhận. Việc chuyển đổi công năng nhà ở thương mại
thành nhà ở xã hội cũng không được cho phép.
TS Trần Du Lịch, Phó Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM, thừa
nhận thủ tục hành chính hiện nay còn quá rắc rối, nhiêu khê
khiến nợ xấu cũng bí cách xử lý, nhà ở xã hội cho người dân
cũng triển khai chậm. Ông đồng tình với kiến nghị của các
ngân hàng về hướng xử lý những khó khăn trên là kích cầu tiêu
dùng, kích cầu xuất khẩu, chính sách hỗ trợ DN thì mới giải
quyết được vấn đề. Từ nay đến cuối năm, các ngân hàng cần
tiếp tục hạ lãi suất cho vay 2%-3%/năm, kiểm soát nợ xấu dưới
3%, cố gắng đạt mức tăng trưởng tín dụng 10%-12%
Số liệu của Cơ quan Thanh tra giám sát NHNN cho thấy, tính đến tháng
5/2013 tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng là 4,65%. Tuy nhiên, theo
tính toán của một số tổ chức tài chính quốc tế, tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam phải gấp 4-5 lần số này.
Tính chất không đổi
Cùng với các giải pháp
trợ giúp tài chính tạo điều kiện cho doanh nghiệp (DN) có tiền trả nợ
ngân hàng (NH), việc thành lập một Cty mua bán nợ như mô hình VAMC là
giải pháp xử lý nợ xấu được nhiều nước áp dụng. Bằng cách này, nhiều kỳ
vọng cho rằng nợ xấu của các NH trên sổ sách sẽ giảm ngay. Song khi nhìn
vào cơ chế vận hành của VAMC hiện nay, PGS.TS Phan Thị Thu Hà của Viện
Ngân hàng Tài chính (ĐHKTQD) cho rằng, vẫn chưa thể rõ tổ chức này sẽ
bán nợ xấu như thế nào.
Cơ chế hiện nay quy
định, các NH khi đổi nợ xấu lấy trái phiếu VAMC vẫn phải thực hiện trích
lập dự phòng 20%. Điểm tích cực với các món nợ nhóm 4 hoặc 5 chính là
các NH chỉ cần trích lập 20%, thay vì 50% hay 100% như trước.
Giải pháp này dĩ nhiên
sẽ giảm gánh nặng tài chính cho các NH trong 1-3 năm đầu và chưa kể số
trái phiếu này có thể được chiết khấu lấy vốn kinh doanh. Song theo quan
điểm của TS Hà, với tình trạng tăng trưởng tín dụng thấp như năm nay và
dự đoán sang cả năm 2014, nhu cầu vốn của các NH sẽ không cao.
Hơn
nữa khi cần, dù không có trái phiếu, NH vẫn có thể huy động bằng các
hình thức khác. “Như vậy, đối với các NH, vấn đề cốt lõi là có bán đứt
được món nợ xấu hay không và bán được bao nhiêu?” – PGS. Hà đặt câu hỏi.
Vị chuyên gia đến từ
Viện Ngân hàng Tài chính nhìn nhận, không giống như mô hình Cty mua bán
nợ Hàn Quốc (Kamco), các khoản nợ xấu của TCTD khi bán cho VAMC vẫn
không phải bán đứt. Trường hợp VAMC không xử lý được, các nhà băng vẫn
phải tự xử lý.
Ở vế thứ hai, VAMC cũng
chỉ mua các khoản nợ có khả năng bán cao (thường là có tài sản đảm
bảo). Điều này đồng nghĩa với việc, bản thân các NH cũng có thể phát mại
các tài sản đảm bảo này dù khả năng rất khó bán trong năm nay do thị
trường bất động sản đi xuống.
Với
định hướng mua nợ như trên, bản thân các NH lớn cũng khó bán nợ cho
VAMC và dễ hiểu tại các NH yếu kém, những khoản nợ có thể bán cho VAMC
càng ít. Do đó, theo đánh giá của PGS.TS Phan Thị Thu Hà, dù nợ xấu có
giảm, tính chất yếu kém của những NH (bán nợ) vẫn không thay đổi, tính
xấu của tài sản của NH cũng như của nền kinh tế không đổi.
Cần thật đơn giản
Với các phân tích trên
đây, việc xử lý nợ qua VAMC được cho phải thật đơn giản về nghiệp vụ,
thu hẹp quy mô, phạm vi và chỉ áp dụng với nợ nhóm 4 và nợ nhóm 5. Bà Hà
đề xuất, trái phiếu đổi nợ không sinh lãi vì nợ xấu không sinh lãi và
cũng để không làm tăng thêm gánh nặng cho VAMC.
Các
NH vẫn phải trích lập dự phòng 20% và phải tìm mọi cách tự xử lý bằng
các biện pháp nghiệp vụ của NH. Các nghĩa vụ giữa NH và khách hàng sẽ
không thay đổi kể cả với tài sản đảm bảo. Khi chiết khấu, thời hạn tối
đa 12 tháng phải trả lại NHNN và tỉ lệ chiết khấu sẽ tùy thuộc vào chính
sách cung ứng tiền của NHNN và tình trạng kém thanh khoản của NH.
NH trích dự phòng đến
đâu, giá trị trái phiếu giảm đến đấy và cho đến khi trích đủ 100%, giá
trị trái phiếu sẽ bằng không (0). Phía VAMC, sẽ tập trung nghiên cứu để
xác định hỗ trợ NH theo hướng đảm bảo thanh khoản cho NH. Cty mua nợ
đồng thời cũng nghiên cứu các biện pháp bán nợ và trong trường hợp bán
được nợ, VAMC sẽ hưởng phí môi giới, tư vấn bán nợ hoặc mua đứt nợ xấu
của NH.
Đối tượng mua nợ cũng
cần được chia làm hai nhóm. TS Phan Thị Thu Hà đưa ý kiến, VAMC không
mua nợ của 5 NHTM nhà nước vì tỉ lệ nợ xấu của nhóm này vẫn thấp. Còn
với các NHTM khác, VAMC ưu tiên mua đứt nợ của DNNN nếu các DN này bị
phá sản, giải thể hay ngừng hoạt động theo tỉ lệ chiết khấu thỏa thuận
giữa NH với VAMC. Toàn bộ quyền và nghĩa vụ đối với nợ sẽ thuộc VAMC và
VAMC cần ưu tiên mua CP của các NH yếu kém để tham gia giám sát, thực
hiện khẩn trương yêu cầu tái cơ cấu.
Biện pháp trên theo
nhìn nhận của TS Hà trước hết sẽ dãn thời gian bán tài sản đảm bảo của
NH, giảm dự phòng phải trích và giúp NH vay vốn của NHNN với lãi suất 0%
với quy mô hạn chế. “Giải pháp này cũng không làm tăng quy mô hoạt động
của VAMC, dẫn đến tăng chi phí vận hành chừng nào VAMC chưa chứng minh
khả năng bán nợ tốt hơn NH, xác định nghĩa vụ xử lý nợ thuộc về NH và
Nhà nước phải gánh một phần tổn thất từ những tài sản xấu của DNNN”.
Rào cản sở hữu chéo
Đánh giá cao về nỗ lực tái cơ cấu các NH cũng như việc thành lập VAMC
để xử lý nợ, nhưng TS Lê Xuân Nghĩa, thành viên Ban Cố vấn Chính phủ,
cũng bày tỏ nhiều mối lo ngại về năng lực của công ty này. Ví VAMC như
một “gánh ve chai chuyên đi gom hàng” và phân loại nợ xấu, ông Nghĩa
nói: “Các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài muốn mua lớn, không mua nhỏ lẻ,
VAMC lại giống gánh ve chai, chưa có khả năng trả lời các NĐT này”.
Tuy nhiên, thách thức lớn khi xử lý nợ xấu, theo ông Nghĩa chính là
rào cản sở hữu chéo. Phần lớn nợ xấu của NH là của chính các ông chủ
đang sở hữu nó. Các ông chủ này đủ quyền lực biến nợ xấu thành nợ trung,
dài hạn. Vấn đề xử lý nợ xấu cũ đang làm, nhưng cái đáng quan ngại là
nợ xấu mới sẽ xuất hiện và tăng lên. Đặc biệt, tại các NH có các ông chủ
vốn là lãnh đạo các tập đoàn lớn làm chủ sở hữu và cũng chính là con
nợ. Khi tái cơ cấu, xử lý nợ các “ông này” phản ứng lại, rồi lợi ích cổ
đông nhỏ cũng bị vô hiệu hóa. Rủi ro lớn nhất chính là sở hữu chéo, sở
hữu lũng đoạn.
Ông Nghĩa cho biết: “Chúng tôi đã đề nghị Thủ tướng cần có lựa chọn,
giải pháp khác mạnh hơn dứt khoát đưa họ ra khỏi hệ thống tài chính. Tới
đây một số NH sẽ bị xử lý theo hướng này, làm như vậy để tránh tổn thất
dài hạn cũng như cú sốc ngắn hạn cho chủ trương tái cơ cấu của chúng
ta”.
Thừa nhận tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống đang rất phức tạp,
ông Bùi Huy Thọ, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý cấp phép các tổ chức tín dụng
và hoạt động NH (Cơ quan Thanh tra giám sát - NHNN), cho biết NHNN đang
lên một kế hoạch chi tiết để có thể xử lý được tình trạng này. Cụ thể,
tiến hành đánh giá thận trọng nguồn lực tài chính để từ chối những NĐT
không có đủ năng lực tài chính, sử dụng vốn vay tín dụng để góp vốn, mua
cổ phần và tham gia tái cơ cấu NH; tăng cường giám sát đối với các cổ
đông và NĐT lớn của NH trong quan hệ tín dụng với NH để hạn chế nguy cơ
bị lạm dụng, chi phối bởi lợi ích nhóm…
VAMC làm “biến dạng” nợ xấu
Tại hội thảo, chuyên gia kinh tế - tiến sĩ (TS) Trịnh Quang Anh bày
tỏ lo ngại việc VAMC mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt, bản chất chỉ dọn
nợ từ bên này sang bên kia, không làm giảm nợ xấu. Hệ lụy của nó làm
biến dạng các chỉ số thống kê từ tỷ lệ nợ xấu, dư nợ tín dụng… làm méo
mó hoạt động của hệ thống NH.
Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa cũng cho rằng, rủi ro của trái phiếu là không
phải tiền mặt, tiền tươi, nó sẽ khiến quá trình xử lý sau này trở nên
phức tạp. Còn tiến sĩ Cấn Văn Lực, Cố vấn cấp cao của HĐQT Ngân hàng
BIDV, khẳng định mua nợ xấu bằng trái phiếu bản chất nợ chưa thay đổi,
nợ vẫn còn đó, con nợ và tài sản đảm bảo vẫn còn đó. Vì là sáng kiến mới
nên không chỉ quốc tế, mà đến VN cũng chưa có phương thức nào để hạch
toán đúng trái phiếu này vào bảng cân đối tài sản các NH cho phù hợp.
Ông Simon Andrews, Giám đốc Công ty tài chính IFC khu vực VN -
Campuchia - Lào và Thái Lan, bày tỏ lo ngại về con số nợ xấu thực hiện
nay của VN, khi có quá nhiều cách phân loại dẫn tới khó xử lý. Chuyên
gia này cho biết, các NĐT nước ngoài hiện nay vô cùng quan tâm và muốn
mua lại nợ xấu của VN. “Nợ xấu không phải là chấm hết, nó thậm chí còn
rất hấp dẫn, bởi còn được cơ cấu lại theo chu kỳ của nền kinh tế. Các
NĐT nước ngoài rất quan tâm và muốn tham gia nhưng với điều kiện VAMC
phải có cơ chế mua bán thuận lợi. Giá nợ xấu được xác định nhanh chóng,
cơ chế mua nhanh và bán nhanh”, ông Andrews kiến nghị.
Ngay sau khi đã có thông tư về
phương thức mua bán nợ xấu, nhiều ngân hàng đã muốn bán nợ cho Cty quản
lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC). Tuy nhiên, ngay cả hai ngân
hàng từng lên tiếng trước đây là ACB và Navibank vẫn chưa cho thấy rõ họ
sẽ bán nợ với con số cụ thể như thế nào?
Chặng đường còn xa
Trong
báo cáo tài chính đã công bố, hầu hết các ngân hàng đều không giải
thích chi tiết lý do nợ xấu gia tăng. Đây không phải là điều bất ngờ khi
kinh tế
vĩ mô còn trì trệ. Nhiều DN vẫn gặp khó khăn, không bán được hàng nên
khó trả nợ vay đúng hạn. Bên cạnh đó, một số ngân hàng vẫn chưa kiểm
soát tốt các khoản cho vay khi chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng tín
dụng... Điều này cũng khiến bức tranh nợ xấu của hệ thống ngân hàng vẫn
còn xám xịt.
Bên cạnh đó, nợ xấu của hệ thống ngân hàng vẫn chưa
được công bố đầy đủ. Nếu áp dụng các quy định theo Thông tư 02/2013 của
NHNN về phân loại và trích lập dự phòng rủi ro thì nợ xấu sẽ cao hơn
hiện nay (Thông tư này đã được dời đến tháng 6.2014 mới áp dụng).
Chính
vì vậy, việc bày tỏ thiện chí là một chuyện, còn bán được hay không,
bán bao nhiêu nợ xấu cho VAMC, dưới góc nhìn của nhiều chuyên gia, thì
vẫn còn một chặng đường xa và quan trọng là các TCTD cũng phải chủ động
hợp tác, cải cách, minh bạch hoạt động để các giải pháp phát huy hiệu
quả.
Theo một giám đốc NHTM ở TPHCM thì dù đã có đường hướng rõ
ràng trong việc xử lý nợ xấu, nhưng thực tế có những món nợ đạt được các
điều kiện của VAMC thì ngân hàng lại không có nhu cầu bán, mà giữ lại
tự xử lý.
Trong khi đó, cái mà các ngân hàng chỉ muốn bán những
món nợ gần như không có khả năng đòi được. Nhưng điều quan trọng là ai
cũng có tâm lý muốn chờ đợi "một ví dụ cụ thể", vì dù sao cho tới nay
vẫn chưa ai biết VAMC sẽ hiệu quả đến đâu.
Thêm vào đó, không
phải NHTM cứ bán nợ cho VAMC là khoản nợ đó được xóa hoàn toàn. Sau 5
năm nếu không xử lý được hết nợ xấu thì NHTM phải lấy lại món nợ đó và
"ôm" số nợ này. Như thế, rủi ro chính vẫn là các NHTM vì họ bán nợ đi,
không biết được tái cấp vốn với tỉ lệ bao nhiêu, trong khi vẫn phải
trích lập dự phòng rủi ro 20% cho các khoản nợ để giảm trừ giá trị trái
phiếu. Rõ ràng với những quy định quá chặt có phần "lợi" cho VAMC như
hiện nay thì phần rủi ro bán nợ vẫn thuộc về phía NHTM.
Kỳ vọng nhà đầu tư nước ngoài?
Dưới
góc nhìn của một chuyên gia kinh tế, ông Nguyễn Xuân Thành - Giám đốc
Chương trình chính sách công tại trường Kinh tế Fulbright - cho rằng,
hiện cách xử lý nợ xấu của VAMC là giữ hộ nợ xấu của ngân hàng trong 5
năm; mỗi năm ngân hàng đó phải trích lập dự phòng 20%, tức là dùng một
khoản lợi nhuận tương đương 1/5 tổng nợ xấu.
"Khi chuyển nợ xấu
qua VAMC, ngân hàng cầm về trái phiếu để vay tái cấp vốn. Đó là lý do
tại sao nền kinh tế không có cú hích cần thiết để thoát vòng xoáy. Nếu
bây giờ muốn giải quyết khó khăn và kích hoạt được tái cơ cấu thì phải
thay đổi nguyên tắc này, tức là dùng tiền thật để xử lý. Một giải pháp
khác là kết hợp một nửa dùng tiền thật và phần còn lại dùng dự trữ để xử
lý nợ" - ông Thành nhận xét.
Tuy nhiên, có thể thấy muốn làm
như vậy thì ngân sách phải bỏ ra vài tỉ USD, trong khi với vốn điều lệ
chỉ có 500 tỉ đồng, điều này là không thể. Chính vì vậy, nhiều chuyên
gia cho rằng, để VAMC có thể sớm thành công vẫn cần có "chiếc chìa khóa"
là bàn tay của nhà đầu tư nước ngoài.
Theo khảo sát mới đây của
Công ty kiểm toán và tư vấn Grant Thornton, hiện có tới 60% các quỹ đầu
tư nước ngoài được hỏi quan tâm tới việc mua bán tài sản nợ xấu tại
Việt Nam. Tuy nhiên, hiện đang có nhiều rào cản. Để
thị trường
nợ xấu của Việt Nam được "quốc tế hóa" thì theo các chuyên gia, điều
đầu tiên là phải thay đổi khung pháp lý để cho những người mua nợ có thể
thanh lý được nợ, nhất là với tài sản bảo đảm của khoản nợ là
bất động sản - vấn đề mà các NHTM trong nước đều ngại mỗi khi bán nợ.
Với
những tài sản là bất động sản, trước đây được đánh giá cao quá mức để
vay cho bằng được, nay giá đi xuống, trong khi thiếu những Cty định giá
độc lập và hành xử một cách khách quan, vậy thì giá mua, giá bán như thế
nào là cả một vấn đề không nhỏ. Do vậy, điều quan trọng là vẫn cần
thiết phải có một đạo luật riêng về xử lý nợ xấu và một cơ chế thông
thoáng hơn cho nhà đầu tư nước ngoài.
Để nhà đầu tư nước ngoài mua nợ xấu ở Việt Nam cần phải thay đổi
khung pháp lý để cho những người mua nợ có thể thanh lý được nợ, nhất là
với tài sản bảo đảm của khoản nợ là BĐS, và đặc biệt cần áp dụng mức
giá hợp lý. Bởi khi mua được khoản nợ rồi, việc xử lý cũng gặp nhiều vấn
đề về luật pháp, tính minh bạch cực kỳ thấp (
DĐDN, 23-8).
Dự kiến Agribank sẽ là TCTD bán nợ nhiều nhất cho VAMC với số nợ ban
đầu trên sổ sách là 10.000 tỷ đồng. Theo báo cáo Q1.2013, tỷ lệ nợ xấu
của Agribank là xấp xỉ 10%. VAMC đã làm việc với đại diện của 6-7 TCTD (
TBKTSG, 23-8).
Hôm nay (23-8), NHNN đã tổ chức phiên đấu thầu vàng miếng thứ 55 với
tổng khối lượng trúng thầu lad 25.900/26.000 lượng vàng chào thầu. Có 17
đơn vị đã trúng thầu. Giá trúng thầu cao nhất là 37,81 triệu
đồng/lượng, giá trúng thầu thấp nhất là 37,79 triệu đồng/lượng. Chiều
cùng ngày, giá vàng giao dịch trên thị trường vẫn dưới 38 triệu
đồng/lượng (
DĐDN, 23-8).
Đến cuối 2013, tỷ lệ nợ xấu của SHB có thể về mức dưới 5% (sau khi
sáp nhập Habubank là khoảng 8,8%). Trong khoản 5.000 nợ xấu hiện tại của
NH này, vẫn còn dư nợ của Vinashin. Đối với các khoản cho vay này SHB
đã phân loại nợ và trích lập dự phòng theo văn bản chỉ đạo của cơ quan
quản lý nhà nước (
VnExpress, 23-8).
Theo BCTC Q2.2013 của LienVietPostBank, tính đến 30-6, tổng tài sản
của ngân hàng đạt 78.206 tỷ đồng, tăng 11.793 tỷ đồng, tương đương 17,8%
so với cuối năm 2012. Dư nợ cho vay khách hàng đạt 32.857 tỷ đồng, tăng
42,9% so với cuối năm 2012 và là tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cao nhất
trong hệ thống. Huy động vốn khách hàng cũng tăng 14,3%, đạt 55.598 tỷ
đồng. Lũy kế 6 tháng, LienVietPostBank lãi 260 tỷ, giảm 35% so với cùng
kỳ 2012 (
Trí Thức Trẻ, 23-8).
Theo BCTC hợp nhất của các NHTM, tổng nợ có khả năng mất vốn của 10
ngân hàng gồm ACB, Nam Việt, Phương Nam, BIDV, Eximbank, Sacombank,
Vietcombank, SHB, MB, Techcombank tính đến cuối T6.2013 là 15.315 tỉ
đồng, tăng 33% so với mức 11.525 tỉ đồng cuối năm 2012. Trong đó,
Sacombank tăng 67%, từ mức 897 tỷ đồng lên 1.500 tỷ đồng. Ba NHTM là Nam
Việt, SHB và Techcombank có tỷ lệ nợ xấu trên 3%, lần lượt là 6,1%, 9%,
và 5,3% (
Đất Việt, 23-8).
Do có sự thay đổi về nội dung quy phạm pháp luật giữa Luật Các TCTD
1997 và 2010 về quy định hoạt động của TCTD nên đang gây khó khăn cho
công tác quản lý Nhà nước và hoạt động của các TCTD, chi nhánh NHNNg.
Một số NHTM phản ánh, hoạt động của họ có nguy cơ bị gián đoạn; hoặc
phát sinh các thủ tục hành chính không cần thiết cho chính cơ quan quản
lý Nhà nước cũng như các TCTD. Đại diện NHNN cho biết, cơ quan thanh tra
giám sát đã và đang làm việc với các NHTM và lắng nghe các ý kiến đóng
góp để tổng hợp, bổ sung vào Giấy phép hoạt động mới trình lãnh đạo NHNN
(
TBNH, 23-8).
Nhằm thoái vốn tại Techcombank, Vietnam Airlines vừa thông báo sẽ
tiến hành bán 24,033 triệu cổ phần (tương đương 2,7% vốn điều lệ của
Techcombank) với giá khởi điểm 12.100 đồng/cổ phiếu. Thời hạn nhận đăng
ký mua từ 30-8 đến 19-9. Vietnam Airlines cũng chào bán 827.847 trái
phiếu chuyển đổi Techcombank có thời hạn 10 năm. Giá khởi điểm 132.700
đồng/trái phiếu. Thời gian đấu giá là 26-9 tới (
Trí Thức Trẻ, 23-8).
Hôm nay (23-8), NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân
hàng triển khai thực hiện Đề án “Xử lý nợ xấu của các TCTD” và Đề án
“Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam”. Theo đó, Kế
hoạch hành động đã đề ra các nội dung công việc cụ thể, giao nhiệm vụ
chủ trì triển khai thực hiện từng công việc cụ thể cho các đơn vị, Vụ,
Cục, chi nhánh NHNN, các TCTD, các khách hàng vay của TCTD và quy định
rõ thời gian hoàn thành công việc (
NHNN, 23-8).
Đầu T9.2013, Thông tư hướng dẫn hoạt động của VAMC có thể sẽ được ban
hành. Thông tư này dự định sẽ đưa ra các nguyên tắc cơ bản về các
phương thức VAMC có thể tiến hành mua lại nợ xấu. Thông tư được kỳ vọng
sẽ cụ thể hóa các quy trình mua nợ xấu giữa các ngân hàng và VAMC thông
qua phát hành các trái phiếu đặc biệt, các điều kiện trước khi VAMC thực
sự mua nợ xấu theo giá thị trường và quy trình chung về bán tài sản đảm
bảo, quy định về phân phối tiền thu được từ việc bán nợ xấu (
Trí Thức Trẻ, 23-8).
(Dân trí) - Những khoản nợ xấu đang đè nặng các
ngân hàng Việt Nam hay những ngôi nhà bị bỏ hoang tại Hà Nội là dấu hiệu
của một nền kinh tế “ốm”. Nhưng với nhà đầu tư nước ngoài đó lại là một
cơ hội, nếu khuôn khổ pháp lý rõ ràng.
Đây là nhận định của phóng viên Chris Brummitt của hãng tin Mỹ AP trong
bài phân tích về nợ xấu tại Việt Nam trong mắt nhà đầu tư nước ngoài,
cùng những mong muốn được tạo điều kiện để tham gia mua bán nợ của họ.
Tác giả bài báo đã phỏng vấn ông Neil Hagan, một chuyên gia xử lý nợ
người Mỹ, người đang muốn mở một công ty xử lý nợ tại Việt Nam để đại
diện cho các nhà đầu tư nước ngoài. Ông khẳng định hàng tuần mình vẫn
nhận được những cuộc gọi từ các quỹ đầu cơ tại Singapore và Hồng Kông,
đề nghị cho biết liệu đã đến lúc mua nợ tại Việt Nam.
Nhưng đến nay Hagan vẫn khuyên họ chờ đợi. “Họ nhìn thấy cơ hội nhưng
họ không thể tham gia”, Neil Hagan, người từng xử lý nợ cho ngân hàng
Lehman Brother's và các tổ chức khác tại châu Á sau khủng hoảng tài
chính 1998 cho biết. Các nhà đầu tư nước ngoài khi đó đã mua hàng tỷ USD
tài sản xấu.
Hagan dự báo rằng, cho đến cuối năm nay một vài thương vụ nhỏ hoặc
“tình huống kích thích” có thể xảy ra. Ông điểm danh một số quỹ đầu tư
tư nhân lớn như Lone Star hay Fortress có thể sẽ là người mua. Các nhà
kinh tế và đại diện ngân hàng đầu tư khác thì ít tin tưởng hơn, do còn
muốn chính phủ Việt Nam có những thay đổi đáng kể về luật pháp để cho
phép việc này diễn ra một cách suôn sẻ.
Các ngân hàng Việt Nam đã cho vay ra hàng tỷ USD cuối những năm 2000
giữa lúc chính phủ tìm cách kích thích kinh tế trong bối cảnh kinh tế
toàn cầu giảm tốc. Rất nhiều trong số vốn tín dụng này được cho vay các
công ty quốc doanh, những người đem vốn đầu tư vào bất động sản (BĐS)
Nhưng nay, khi giá BĐS lao dốc còn kinh tế tăng trưởng chậm nhất hơn
10 năm, các công ty và cá nhân từng vay vốn không thể trả nợ. Nợ xấu
khiến không ít ngân hàng nhỏ có nguy cơ phá sản, trong khi khiến các
ngân hàng khác hạn chế cho vay. Hệ quả là nền kinh tế càng bị kìm hãm.
Bán một gói các khoản nợ xấu cho các nhà đầu tư nước ngoài là một
cách để loại chúng khỏi sổ sách các ngân hàng. Thông thường, nhà đầu tư
sẽ mua lại các khoản nợ cùng với tài sản bảo đảm của chúng ở một mức giá
thấp hơn đáng kể mệnh giá.
Họ kỳ vọng kiếm lời bằng cách khiến tài sản đảm bảo tăng giá, hoặc
chi tiền để “làm đẹp” cho tài sản trước khi bán, hoặc tìm kiếm doanh thu
từ tài sản đó. Nhà đầu tư sẽ dùng các công ty xử lý nợ để thực hiện
việc này.
Các ngân hàng vẫn muốn găm giữ nợ xấu
Nhưng để công việc này có thể được thực hiện, chính phủ trước hết cần
phải buộc các ngân hàng bán nợ xấu. Muốn việc này thực hiện được tại
Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc khiến chủ tịch và cổ đông của các ngân
hàng chấp nhận thua lỗ, cũng như chính phủ phải đẩy mạnh cải cách doanh
nghiệp nhà nước. Việc tịch biên hàng nghìn căn nhà hoặc doanh nghiệp
nhỏ cũng là một nhiệm vụ khó khăn về mặt chính trị.
“Cho dù họ có đi theo hướng nào, cũng sẽ không có giải pháp dễ dàng”,
Gareth Leader, chuyên gia về châu Á của công ty Capital Economics có
trụ sở tại London nhận định. “Nhưng chừng nào bạn chưa khiến các ngân
hàng cho vay trở lại, nền kinh tế sẽ khó lòng tăng tốc”.
Nhiều nhà quan sát cho rằng chính phủ có vẻ đang hy vọng kinh tế toàn
cầu phục hồi sẽ khiến giá tài sản tại Việt Nam đi lên. Còn trong lúc
này, các ngân hàng có thể che giấu số lượng nợ xấu trên sổ sách, một
chiến lược được gọi là “giả bộ và gia hạn”.
Hồi tháng 5, Việt Nam đã thành lập một công ty quản lý tài sản để mua
nợ xấu từ các ngân hàng, nhưng vẫn có những hoài nghi về hiệu quả của
công ty này. Công ty có số vốn 23 triệu USD. Theo các nhà phân tích các
công ty này nên cân nhắc việc bắt tay với một đối tác nước ngoài để bù
đắp số vốn thiếu hụt
“Một quỹ đầu cơ của Mỹ có thể chi số tiền bằng toàn bộ công ty quản
lý tài sản Việt Nam”, John Sheehan, chuyên gia về nợ xấu tại Capital
Services Group, người vừa có chuyến đi tới Việt Nam để gặp gỡ các ngân
hàng cho biết. “Nếu họ đưa ra những hạ tầng cần thiết, sẽ có nhiều nhà
đầu tư nước ngoài sẵn sàng nhập cuộc. Họ làm việc này càng sớm, tình
hình sẽ càng sớm tiến triển”.
Hiện có rất nhiều trở ngại cho các nhà đầu tư mua bán nợ xấu: Nhiều
con nợ xấu nhất là các công ty nhà nước, do đó việc thu nợ từ những công
ty này là đặc biệt khó, nếu không muốn nói là bất khả thi. Lãnh đạo của
các công ty đó có thể bị khởi tố hình sự nếu bán tài sản với giá rẻ bởi
việc đó “gây tổn thất cho nhà nước”. Người nước ngoài lại không được
phép sở hữu BĐS hay tài sản cầm cố.
David Harrison, một luật sư của Mayer Brown tại Việt Nam nhận định,
có vẻ chính phủ sẽ sửa đổi luật để cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua
tài sản gắn với các khoản nợ, có lẽ là với sự kết hợp cùng công ty quản
lý tài sản.
Những sai sót của chính ngân hàng cũng làm cho tỷ lệ nợ xấu cao, đó là:
định giá BĐS quá cao;
Công ty Quản lý Tài sản các tổ
chức tín dụng Việt Nam (VAMC) cho biết, trong số 6.500 tỷ đồng nợ xấu đã
mua, có hơn 67% nợ xấu thuộc lĩnh vực bất động sản.
(Dân trí)- Nhiều tổ chức kinh tế “ngoại” tin rằng giá bất động
sản tại Việt Nam đã đến “đáy” nên muốn thông qua VAMC để mua những tài
sản đảm bảo bằng bất động sản. Nhưng VAMC chưa đặt vấn đề ký kết, hợp
tác, vay vốn hay mua bán nợ đối với các đối tác này.
Trước thông tin nhiều tổ chức kinh tế nước ngoài đánh tiếng
tham gia vào thị trường nợ của Việt Nam, ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ
tịch thường trực Công ty Quản lý và Khai thác tài sản các tổ chức tín
dụng Việt Nam (VAMC) cho biết:
Đúng là có rất nhiều lời đề nghị của tổ chức nước ngoài, họ tới tìm
hiểu mô hình hoạt động VAMC, cách thức xử lý nợ xấu, quan tâm tới các
tài sản đảm bảo để thăm dò bỏ vốn đầu tư, hoặc muốn thông qua tổ chức
nào đó thâu tóm lại các tài sản đảm bảo mà VAMC đã mua.
“Có khách hàng nước ngoài đặt vấn đề mua lại nợ xấu của VAMC. Nhưng
VAMC chưa đặt vấn đề ký kết, hợp tác, vay vốn hay mua bán nợ đối với đối
tác này. Vì có những nhà đầu tư nước ngoài đề cập đến vấn đề mua bán
theo giá thị trường, nhưng hiện tại vốn điều lệ của VAMC chỉ có 500 tỷ
đồng nên vấn đề đặt ra không khả thi".
Cũng theo chia sẻ của Phó Chủ tịch VAMC, nhiều tổ chức kinh tế nước
ngoài tin rằng giá bất động sản tại Việt Nam đã đến “đáy” nên muốn thông
qua VAMC để mua những tài sản đảm bảo bằng bất động sản. Do đó, VAMC
cũng sẽ phải thận trọng khi tính tới việc bán tài sản nợ của doanh
nghiệp, cũng không thể vội vàng bán rẻ khi thị trường đang “đóng băng”.
Ông Nguyễn Quốc Hùng nói: “Nếu thời gian tới, thị trường bất động sản
ấm lên, nền kinh tế phát triển, giá trị tài sản được nâng lên thì tổ
chức tín dụng có phát mại tài sản cũng thu được gốc, tổ chức kinh tế có
bán tài sản cũng tránh được việc phá sản. Bởi khi đó, tài sản cũng có
thể bán được giá hợp lý và đặc biệt là không bị thâu tóm tài sản với giá
rẻ mạt”.
Tháng 10 này, 10.000 tỷ nợ nợ xấu sẽ được mua bởi VAMC (ảnh minh họa).
Đề cập tới “quyền năng” của VAMC, vị đại diện
này cho rằng: “VAMC không phải cây đũa thần, chúng tôi chỉ là đầu mối
trung gian hỗ trợ và là chất xúc tác cho cả quá trình đó. Trước đây,
ngân hàng đơn thương độc mã xử lý món nợ xấu của mình, đơn cử có trường
hợp 5 ngân hàng cùng chung một con nợ, phải cắt cử người ngồi trông kho
tài sản đảm bảo. Nhưng nay chúng tôi tham gia cùng ngân hàng và doanh
nghiệp tái cơ cấu khoản nợ, tìm phương án giúp doanh nghiệp ổn định trở
lại và phát triển”.
Hiện tại, VAMC đã có khách hàng đầu tiên là Agribank bán 27 món nợ
xấu của 11 khách hàng doanh nghiệp và trong tuần này sẽ ký kết mua nợ
với SCB, SHB, PGBank. Dự kiến trong tháng 10 này, VAMC sẽ mua nợ từ các
tổ chức tín dụng với giá trị khoảng 10.000 tỷ đồng bằng trái phiếu đặc
biệt.
Tuy nhiên, theo ông Hùng, thời gian đầu các tổ chức tín dụng khá e
ngại khi phải mua bán nợ xấu với VAMC. Bởi lúc đó họ chưa hiểu rõ quy
định và cơ chế mua bán nợ. Họ cũng không rõ khi bán nợ sẽ phải trích lập
dự phòng rủi ro thế nào, rồi bán nợ xong thì được vay tái cấp vốn với
tỷ lệ bao nhiêu, việc bán nợ đó ảnh hưởng thế nào tới tình hình tài
chính của ngân hàng.
Nhưng sau khi có cơ chế rõ ràng, được giải đáp thoả đáng, họ đã nhiệt
tình hơn. Ngân hàng Nhà nước và VAMC đã tổ chức hai hội nghị tại TP HCM
và Hà Nội để quán triệt tinh thần triển khai Nghị định 53 của Chính phủ
và các Thông tư 19, 20 hướng dẫn mua bán nợ xấu. Ngay sau hội nghị tại
TP HCM, 5 tổ chức tín dụng đăng ký làm việc với VAMC với tinh thần hợp
tác. Sau hội nghị tại Hà Nội cũng vậy, các đơn vị đến tận trụ sở VAMC để
tìm hiểu và bày tỏ mong muốn bán nợ. Đến nay có hơn 10 tổ chức tín dụng
đặt vấn đề bán nợ cho VAMC và điều đáng mừng là 4 đơn vị trong số này
có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%.
Được biết, khoản nợ xấu khi ngân hàng bán cho VAMC sẽ được đưa ra
phần ngoại bảng để theo dõi mà không phải trích lập ngay lập tức 100% dự
phòng rủi ro, thay vào đó sẽ chia đều cho 5 năm, tối thiểu mỗi năm 20%.
Ngân hàng còn được sử dụng trái phiếu đặc biệt để đến Ngân hàng Nhà
nước vay tái cấp vốn với tỷ lệ tới 70% giá trị trái phiếu. Doanh nghiệp
cũng được lợi vì khi VAMC mua nợ xấu, ngân hàng sẽ có quyền cho vay trở
lại nếu dự án của doanh nghiệp khả thi, hiệu quả.
Và để hỗ trợ giảm bớt khó khăn cho các tổ chức tín dụng, Ngân hàng
Nhà nước đang trình Chính phủ cho áp dụng mức lãi suất trái phiếu hợp
lý, tối thiểu 2%/năm, thay vì mặt bằng lãi suất vay tái cấp vốn hiện nay
khoảng 7%/năm.
Theo đại diện của VAMC, với rất nhiều hồ sơ mà các tổ chức gửi đến,
trước hết, VAMC sẽ ưu tiên cho 3 đối tượng: ngân hàng thương mại vốn nhà
nước, các ngân hàng thuộc diện tái cơ cấu và các ngân hàng có nợ xấu
trên 3%. Và với 3 đối tượng này, VAMC cũng ưu tiên để mua các khoản nợ
đã hội đủ tiêu chí và sẵn sàng bán được ngay. Dù vậy, các khoản nợ xấu
dưới 3% của các tổ chức tín dụng cũng sẽ được xem xét, nhưng mất nhiều
thời gian hơn để VAMC sàng lọc hồ sơ.
dự tính sẽ có một nguồn vốn lớn được Ngân hàng Nhà nước thực hiện qua
việc tái cấp vốn cho các chủ sở hữu trái phiếu đặc biệt. Tổng quy mô có
thể lên tới 100.000 tỷ đồng.
Tuy nhiên, Phó thống đốc Đào Minh Tú
cho biết, đến thời điểm này vẫn chưa có ngân hàng nào sử dụng trái
phiếu đặc biệt để vay vốn tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước. Lý do chung
được ông Tú nhìn nhận ở thanh khoản hệ thống tốt và các ngân hàng đang
“rủng rỉnh” vốn.
Cũng theo ông Tú, cơ chế hiện hành cho phép tổ
chức tín dụng được sử dụng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành để nhận
tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước với hạn mức tối đa 70% giá trị trái
phiếu.
“Tuy nhiên, việc tái cấp vốn, mức độ và hạn mức sẽ được
Ngân hàng Nhà nước cân nhắc linh hoạt tùy từng thời điểm. Hạn mức hiện
tối đa 70% nhưng cũng có thể rút xuống 50%”, ông Tú nói.
Từ ngày
1/10/2013, VAMC đã bắt tay vào mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Các
ngân hàng như Agribank, SCB, SHB, PGBank… đã lần lượt ký hợp đồng bán nợ
xấu; trái phiếu đặc biệt cũng đã được phát hành. Nhiều ngân hàng khác
cũng đã gửi hồ sơ về và đăng ký bán lại nợ.
Sau tháng đầu tiên,
đã có khoảng 10.000 tỷ đồng nợ xấu các ngân hàng bán lại cho VAMC. Mục
tiêu mà công ty này đặt ra đến cuối năm 2013 sẽ mua được tối thiểu
30.000 tỷ đồng.
Các tổ chức tín dụng được sử dụng trái phiếu đặc
biệt để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước với mức lãi suất dự kiến
rất thấp. Theo cơ chế này, một nguồn vốn từ nợ xấu sẽ được “tái sinh”
cho các ngân hàng thương mại, cũng như tỷ lệ nợ xấu được “giảm” đi tương
ứng.
Những ngân hàng nào nợ xấu "khủng" nhất?
Thứ Ba, ngày 27/08/2013 07:59 AM (GMT+7)
Điểm qua khối các ngân hàng trong báo cáo 6
tháng đầu năm, tỷ lệ nợ xấu ở mức khủng thuộc về Ngân hàng TMCP Xăng
Dầu Petrolimex (PGBank) với 9.1%. Kế đến là SHB cuối quý 2/2013 là
9,04%, tương đương gần 5.300 tỷ đồng.
Không những tỷ lệ nợ xấu gia tăng mạnh mà nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) của hầu hết các ngân hàng cũng có xu hướng tăng đáng kể. Tổng nợ xấu của các ngân hàng trên gần 47.000 tỷ, trong đó, nợ nhóm 5 chiếm gần 20.300 tỷ đồng.
Tỷ lệ nợ xấu ở mức khủng thuộc về Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex
(PGBank) với 9.1%. Trong khi cho vay tại PGBank chỉ đạt 13,155 tỷ đồng
thì nợ xấu đã chiếm 1.197 tỷ, trong đó, nợ có khả năng mất vốn là 137 tỷ
đồng.
Tỷ lệ nợ xấu ở mức khủng thuộc về Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex (PGBank) với 9.1%.
Tuy nhiên, điều bất ngờ nhất có lẽ là nợ xấu của Techcombank tăng vọt
từ ngưỡng cho phép 2.7% lên 5.28%, nợ xấu cao gấp đôi cuối năm 2012 lên
gần 3,700 tỷ đồng với nợ có khả năng mất vốn tăng mạnh 47% lên 1,300 tỷ
đồng. Chất lượng nợ của ngân hàng này cũng giảm sút rõ rệt khi nợ đủ
tiêu chuẩn giảm 4%, còn nợ cần chú ý (nhóm 2) cao gấp đôi và nợ dưới
tiêu chuẩn (nhóm 3) cao gấp 14 lần so với đầu năm.
Nợ xấu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (HNX: SHB) đến cuối quý
2/2013 là 9,04%, tương đương gần 5.300 tỷ đồng. Số nợ này cũng gắn liền
với khoản cho vay và phát hành trái phiếu của Vinashin. Tuy nhiên, trong
một lần trả lời
báo chí gần đây,
đại diện của SHB khẳng định tỷ lệ nợ xấu này chỉ tăng nhẹ so với đầu
năm. Đây cũng là một trong những ngân hàng có nhân sự về đầu quân cho
VAMC.
Ngân hàng TMCP Nam Việt (HNX: NVB) cũng chưa cải thiện được nợ xấu
của chính mình. Chưa biết lộ trình tự tái cơ cấu sẽ đưa NVB về đâu nhưng
trước mắt nợ xấu của ngân hàng này vẫn gia tăng đáng kể lên 6.1% với nợ
có khả năng mất vốn gần 500 tỷ đồng.
Theo số liệu từ chính các ngân hàng công bố thì hiện có ít nhất 5
ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu trên 3% bao gồm PGBank, SHB, NVB, PVF và
Techcombank, sẽ phải bắt buộc bán nợ xấu cho VAMC bởi tổ chức này quy
định ngưỡng cho phép là 3%.
Một ngân hàng khác cũng từng đánh tiếng sẽ bán nợ xấu cho VAMC là
Ngân hàng TMCP Á Châu (HNX: ACB) khi tỷ lệ nợ xấu đã mấp mé ở ngưỡng
2,99%. Bên cạnh đó, nợ có khả năng mất vốn của ACB cũng tăng đên 55% lên
1.782 tỷ đồng.
Tỷ lệ nợ xấu của VCB cũng cách ngưỡng 3% không xa. Trong khi đó nợ có khả năng mất vốn cũng tăng 53% lên hơn 2.200 tỷ đồng.
BIDV (BID) mặc dù khống chế tỷ lệ nợ xấu được ở mức 2,58% nhưng khoản
này chiếm đến gần 9.400 tỷ, trong đó nợ có khả năng mất vốn gần 2.700
tỷ đồng.
Tăng trưởng cho vay âm
Tăng trưởng cho vay tại một số ngân hàng tính đến 30/06/2013 vẫn đang
bị âm. Tuy nhiên, điều đáng nói là trong khi hoạt động cho vay giảm sút
thì nợ xấu tại các ngân hàng này vẫn tăng đều đều.
“Ông lớn” Vietcombank (HOSE: VCB) bị âm tăng trưởng cho vay gần 1,5%
trong khi tỷ lệ nợ xấu tăng từ 2,4 lên 2.8%. Tương tự như VCB, tỷ lệ nợ
xấu của PVF từ 4,77% lên 5,56% nhưng tăng trưởng cho vay âm đến 8%.
Đạt tỷ lệ tăng trưởng cho vay khách hàng cao nhất là Sacombank (HOSE:
STB) với hơn 13%, huy động tại ngân hàng này cũng tăng ấn tượng 16%.
NVB cũng là ngân hàng có cho vay và huy động tăng trưởng tốt nhưng có
lẽ chưa tương xứng với kết quả đạt được và tỷ lệ nợ xấu mà ngân hàng
“dính” phải.
Nhìn chung, chỉ có 3 ngân hàng có tỷ lệ cho vay/huy động vượt 100% là
PVF, CTG và BIDV. Trong đó, khoản cho vay của PVF vượt gần 34% so với
số tiền huy động được từ khách hàng. Tỷ lệ này ở Ngân hàng TMCP Quân đội
(HOSE: MBB) chỉ ở mức 60%.
Tổng tài sản của hầu hết các ngân hàng giảm đáng kể so với đầu năm
chủ yếu do hoạt động liên ngân hàng và phát hành giấy tờ có giá sụt
giảm. Trong đó, giảm nhiều nhất là Eximbank (HOSE: EIB) hơn 13,800 tỷ
đồng, Techcombank cũng giảm gần 8.500 tỷ đồng. Đặc biệt là ACB chịu ảnh
hưởng rõ nét từ hoạt động liên ngân hàng khi khoản tiền gửi tại các TCTD
và cho vay các TCTD khác giảm hơn 9.000 tỷ, tiền gửi và vay các TCTD
khác cũng giảm hơn 6.600 tỷ đồng.
Liên quan đến lĩnh vực liên ngân hàng, ACB cũng chịu ảnh hưởng nặng
nề từ vụ án lừa đảo Huỳnh Thị Huyền Như khi việc đòi lại khoản tiền hơn
700 tỷ đồng được ACB ủy thác cho các nhân viên đem gửi tại ngân hàng
khác hoàn toàn không dễ dàng. Giải trình về kết quả hoạt động giảm sút
trong quý 2 vừa qua, ACB cũng thừa nhận hoạt động liên ngân hàng đã tác
động rất mạnh đến kết quả này.
Ở phía ngược lại, có 7 ngân hàng tăng tài sản, chủ yếu nhờ tiền gửi của khách hàng.
Bán nợ cho nước ngoài: Chẳng dễ "xơi"
Trong lúc việc mua bán nợ xấu trong nước còn "chưa thông" thì thông
tin một số nhà đầu tư ngoại "nhòm ngó" và sẵn sàng mua nợ xấu của Việt
Nam đang làm thị trường mua bán nợ "nóng" lên.
Về việc này TS. Hiếu bày tỏ, "sẽ không dễ dàng như vậy". Theo ông,
điều này chưa hề có tiền lệ, chưa kể với số nợ được đảm bảo bằng tài sản
bất động sản, mua xong rồi sẽ xử lý ra sao? khi kéo theo nó là hàng
loạt vấn đề rắc rối về pháp lý.
"Nếu các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm tới nợ xấu và muốn mua số nợ
này chắc chắn Việt Nam phải hoàn thiện khung pháp lý và giá"- TS. Hiếu
bình luận.
Ngoài ra cũng phải chấp nhận "đánh đổi" khi phải tăng quyền sở hữu cổ
phần cho đối tác nước ngoài, sở hữu đất đai... Với những điều kiện "gia
tăng" này, chắc chắn các DN trong nước trong lúc đang "ốm yếu" sẽ chẳng
vui vẻ gì, vì họ sẽ phải thêm gánh nặng cạnh tranh trước đối tác ngoại.
Chia sẻ thêm với Infonet, nguyên Phó tổng giám đốc một NHTM tại Hà
Nội đánh giá bán nợ cho nhà đầu tư nước ngoài cũng là một phương án tốt
khi nguồn lực trong nước hạn chế. Tuy nhiên, vị này băn khoăn, nếu có
mua chắc chắn các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chỉ "nhắm" tới những khoản nợ
có khả năng thu hồi – nợ nhóm 3 – trong khi với những món nợ này Việt
Nam hoàn toàn có thể giải quyết được bằng nội lực của mình.
"Dẫu biết phải xử lý nợ xấu càng nhanh càng tốt để tránh lây lan ra
toàn hệ thống, nhưng phương thức bán nợ xấu cho nhà đầu tư ngoại cũng
không "dễ xơi"- ông nói.
Trước đó, theo thông tin từ Thống đốc Nguyễn Văn Bình, từ nay đến cuối năm,
Công ty Quản lý tài sản (VAMC) cũng sẽ tham gia xử lý khoảng 30.000 tỉ đồng nợ xấu, góp phần kéo giảm tỷ lệ này xuống.
Liên quan đến đề án tái cấu trúc hệ thống
ngân hàng, ông Bình cho biết sau 2 năm triển khai, NHNN đã chỉ đạo xử lý
tái cơ cấu được 8 ngân hàng cổ phần yếu kém, chỉ đạo 3 trong số 4 ngân
hàng quốc doanh lớn cổ phần hóa, trong đó 2 ngân hàng niêm yết trên thị
trường chứng khoán.
Vị đại diện Thanh tra NHNN khẳng định việc giám sát các tổ chức tín dụng
(TCTD) được thực hiện thường xuyên nhằm nhận diện chính xác thực trạng,
từ đó có biện pháp tái cơ cấu thích hợp nhằm giữ ổn định, không gây xáo
trộn hệ thống, góp phần thực hiện thành công Đề án "Cơ cấu lại hệ thống
các TCTD giai đoạn 2011-2015" đã được Chính phủ phê duyệt.
Trước
đó trong năm 2012, NHNN đã xác định được 9 ngân hàng yếu kém và đã
triển khai các giải pháp phù hợp để tiến hành tái cơ cấu các. Cụ thể
NHNN đã phê duyệt phương án tái cơ cấu 8 NHTMCP yếu kém, trong đó, 3
ngân hàng đã được hợp nhất với nhau, 1 ngân hàng đã được hợp nhất với 1
Công ty tài chính, 1 ngân hàng đã được sáp nhập vào 1 ngân hàng khác, 3
ngân hàng tự củng cố, chấn chỉnh.
Tuy nhiên theo đánh giá của
các chuyên gia, quá trình tái cơ cấu ngân hàng chỉ mới hoàn thành được
bước 1. Theo lộ trình tái cơ cấu đề ra, năm 2014, ngành ngân hàng phải
hoàn thành căn bản tái cơ cấu tài chính. Cụ thể, phải hoàn thành căn bản
xử lý nợ xấu, áp dụng trên thực tế các chuẩn mực kế toán và an toàn,
tập trung hoàn thành tái cơ cấu hoạt động và quản trị.
Ông
Nguyễn Hữu Nghĩa khẳng định, từ nay đến năm 2015, NHNN tiếp tục đưa ra 5
giải pháp để đưa nợ xấu về 3% và đẩy nhanh lộ trình tái cơ cấu.
Thứ
nhất, trên cơ sở kết quả thanh tra, giám sát năm 2013, tiếp tục đánh
giá thực trạng TCTD qua công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để nhận
diện các TCTD yếu kém và TCTD hoạt động bình thường, từ đó có biện pháp
tái cơ cấu thích hợp.
Thứ hai, yêu cầu tất cả các TCTD chủ động
rà soát, đánh giá thực trạng và xây dựng phương án tái cơ cấu toàn diện
các mặt tổ chức và hoạt động, tập trung tăng cường năng lực tài chính
đảm bảo vốn tự có đủ bù đắp rủi ro, đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo quy
định và vốn điều lệ thực không thấp hơn mức vốn pháp định, xử lý nợ xấu
và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp.
Thứ ba, tiếp tục tập
trung triển khai Đề án xử lý nợ xấu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt,
đồng thời đôn đốc, giám sát chặt chẽ quá trình bán, xử lý nợ xấu giữa
các TCTD và Công ty quản lý tài sản Việt Nam.
Thứ tư, hoàn thiện
đồng bộ các quy định liên quan đến việc đổi mới hệ thống quản trị doanh
nghiệp, quản trị rủi ro, minh bạch hóa trong hoạt động ngân hàng tạo
nền tảng cho NHNN sẽ tập trung chỉ đạo tái cơ cấu toàn diện trên quy mô
toàn hệ thống, trong đó, tập trung cải cách thể chế về quản trị DN.
"Đây
là một nội dung then chốt tạo cơ sở cho các TCTD tự tái cơ cấu theo các
Phương án tái cơ cấu đã được NHNN phê duyệt và là nền tảng cho sự thay
đổi của hệ thống các TCTD theo mục đích tái cơ cấu dựa trên sự tự thay
đổi của chính các TCTD trong bối cảnh nâng cao kỷ luật thị trường" - ông
nhấn mạnh.
Đặc biệt, theo quan điểm của ông Nghĩa, việc tái cơ
cấu hệ thống các TCTD và xử lý các TCTD yếu kém là vấn đề hết sức phức
tạp, nhạy cảm, liên quan đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của nhiều bên và
mất nhiều thời gian với nhiều thủ tục, quy định. Do vậy, thời gian xử lý
các TCTD yếu kém có thể chậm hơn so với kế hoạch dự kiến.
Nguyên
nhân cũng được vị Chánh thanh tra NHNN chỉ ra, để tái cơ cấu vẫn cần bổ
sung các cơ chế, chính sách khuyến khích các TCTD tích cực triển khai
tái cơ cấu như các cơ chế, chính sách về miễn giảm thuế, phí để hỗ trợ
TCTD trong xử lý nợ xấu và các tài sản đảm bảo tiền vay, các cơ chế
chính sách về miễn giảm thuế liên quan đến các giao dịch sáp nhập, hợp
nhất, mua lại để hỗ trợ cho quá trình cơ cấu lại TCTD...
Về kinh tế vĩ mô, dù đã có những diễn biến khởi sắc hơn, song thị trường bất động sản
vẫn chưa phục hồi, sản xuất kinh doanh còn nhiều khó khăn, tiêu thụ
hàng hoá chậm, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp
còn rất thấp, dẫn đến các TCTD vẫn tiếp tục chịu áp lực nợ xấu trong
thời gian tới và việc xử lý nợ xấu vẫn còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó,
các cơ chế, chính sách xử lý tài sản bảo đảm tiền vay còn nhiều rất
vướng mắc, phức tạp, chưa được khắc phục, hoàn thiện, làm chậm tiến độ
xử lý nợ xấu của hệ thống trong thời gian tới.
Ngoài ra, do kinh
tế vĩ mô và điều kiện sản xuất - kinh doanh, thị trường tài chính trong
nước và quốc tế gặp nhiều khó khăn nên việc huy động các nguồn vốn và
tìm kiếm các nhà đầu tư có đủ năng lực tài chính, quản trị để tham gia
tái cơ cấu, xử lý nợ xấu của các TCTD không thuận lợi.
Điểm lạ của mùa báo cáo kết quả kinh doanh quý 3 năm nay,
một số ngân hàng thương mại nhỏ có kết quả không thuận lợi lại công bố
trước.
Những năm gần đây, rất hiếm khi Ngân hàng Xăng
dầu Petrolimex (PGBank) có thông tin về tình hình sức khỏe định kỳ sớm
như vậy. Đây là thành viên đầu tiên trong hệ thống báo lãi quý 3/2013.
Tuy
nhiên, sau một thời gian dài chật vật tăng vốn để đảm bảo mức vốn pháp
định (3.000 tỷ đồng), khó khăn càng nổi bật hơn tại đây. Cụ thể, quý
3/2013, PGBank chỉ chớm lãi 11,5 tỷ đồng, nâng tổng lợi nhuận lũy kế 9
tháng được hơn 60 tỷ đồng.
Từng là thành viên có hiệu quả kinh
doanh ở nhóm dẫn đầu hệ thống (xét theo các chỉ số cơ bản ROA và ROE)
một số năm trước, nay PGBank ở tình thế chấp chới lợi nhuận. Dễ thấy một
nguyên nhân chính là nợ xấu đã ở mức quá cao, lên tới 9,5% tổng dư nợ.
Tương
tự, Ngân hàng Nam Việt (Navibank) cũng thoát lỗ trong gang tấc, theo
báo cáo tài chính quý 3/2013 vừa công bố. Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
của ngân hàng này chỉ chớm hơn 2,6 tỷ đồng; lũy kế 9 tháng được 10,5 tỷ
đồng. Dù sao Navibank cũng đã có lãi trở lại, sau khi báo lỗ hơn 11 tỷ
đồng trong quý 2/2013.
Trước đó, trong thông tin giải trình (do
đã niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội), Navibank nhấn
mạnh đến nguyên nhân ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận là việc cắt giảm lãi
suất trong thời gian qua nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, người
dân vay vốn…
Còn theo báo cáo tài chính, nợ xấu ở mức cao cũng là
một níu kéo chính. Đáng chú ý là tỷ lệ nợ xấu của Navibank tiếp tục
tăng mạnh và lên mức cao, từ 6,11% cuối quý 2/2013 lên tới 8,77% trong
quý 3/2013.
Với những thông tin bước đầu công bố, PGBank và
Navibank là hai trường hợp khó khăn đầu tiên được định hình, thể hiện ở
mức lợi nhuận mong manh và tỷ lệ nợ xấu ở mức cao. Trong khi đó, hẳn có
những ngân hàng lỗ, thậm chí có thể lỗ lớn kéo dài thời gian qua nhưng
vẫn chưa lộ diện.
Thực tế trên chỉ được nhận biết ở tình hình
chung, khi dữ liệu cập nhật gần nhất của Ngân hàng Nhà nước cho thấy,
đến 30/8/2013, tình trạng quy mô vốn tự có của khối ngân hàng thương mại
cổ phần vẫn bị lỗ ăn mòn dẫn tới thấp hơn cả quy mô vốn điều lệ
(177.898 tỷ đồng so với 180.533 tỷ đồng).
Khó khăn không chỉ thể
hiện ở những trường hợp cụ thể trên và ở tình hình chung đó, ngay cả một
số ngân hàng lớn cũng đang đuối sức trước khả năng sinh lời.
Dù
chưa công bố chính thức, nhưng theo gợi mở của Chủ tịch Hội đồng Quản
trị Lê Hùng Dũng trên báo chí tuần qua, kế hoạch 3.200 tỷ đồng lợi nhuận
năm nay của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) gần như chắc
chắn sẽ không thể đạt; thậm chí mức độ hoàn thành khoảng 50% chỉ tiêu đó
đang cần phấn đấu.
Cụ thể, ông Lê Hùng Dũng cho biết: “Lợi nhuận
9 tháng mới đạt xấp xỉ 38% chỉ tiêu đề ra cho năm 2013; cả năm phấn đấu
đạt khoảng 1.600 tỷ đồng, tức 50% kế hoạch”.
Cùng với Eximbank,
kết quả của một đầu tàu lợi nhuận trong khối cổ phần những năm 2008 -
2011 là Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) hiện đang được chờ
đợi. Với tình hình trong 6 tháng đầu năm, khi nợ xấu tăng cao, khả năng
trở lại của Techcombank như thế nào trong quý 3 vừa qua vẫn là ẩn số.
Trong
khi đó, dù giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2012 (3,7%), song Ngân hàng Quân
đội (MB) vẫn đang bám trụ ở vị trí dẫn đầu lợi nhuận của khối ngân hàng
thương mại cổ phần (nhóm Nhà nước không nắm tỷ lệ sở hữu chi phối), xét
ở con số tuyệt đối.
Cụ thể, 9 tháng đầu năm 2013, lợi nhuận
trước thuế của MB đạt hơn 2.600 tỷ đồng, hoàn thành 74% kế hoạch cả năm
(3.523 tỷ đồng). Tỷ lệ nợ xấu tiếp tục tăng nhẹ, lên 2,55% so với mức
2,44% quý liền trước.
Một thành viên khác cũng đang thể hiện sự
ổn định, đều đặn trong khả năng tạo lãi là Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
(Sacombank). Ước tính trong 9 tháng đầu năm 2013, Sacombank đạt khoảng
2.200 tỷ đồng.
Xét về tiến độ thực hiện kế hoạch, dù chưa công bố
chính thức và cụ thể, nhưng dự kiến Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam (BIDV) là thành viên có khả năng bám sát chỉ tiêu tốt nhất. Ước 9
tháng BIDV đạt khoảng 3.800 tỷ đồng lợi nhuận và hoàn thành 81% kế hoạch
năm.
Dù chỉ tiêu và tỷ lệ hoàn thành không phản ánh trực tiếp
hiệu quả hoạt động của ngân hàng, song việc bám sát được nó ít nhất cho
thấy khả năng dự báo và tính ổn định trong hoạt động của mỗi thành viên.
Dự
kiến trong tuần này và tuần tới, các ngân hàng thương mại sẽ lần lượt
công bố chính thức báo cáo tài chính 9 tháng đầu năm 2013. Dù vậy, bên
cạnh những thông tin bước đầu, những trường hợp thoát lỗ trong gang tấc,
thì nhiều khả năng công chúng vẫn không thể nhận diện một cách đầy đủ
và cụ thể những trường hợp thua lỗ.